MẬT DANH AZET

By

 

8

BÍ MẬT NÚI BÁI

Sau khi đã xuống bản La Khê nắm lại tình hình và nghe người dân quanh vùng kể về câu chuyện thời gian gần đây xảy ra trên hang ma. Gặp gỡ các già làng để nghe các già làng nói cho hay về những gì già làng biết hang ma. Tự Kim và A Lò quyết định tìm đường lên tận hang ma xem thực tế.  

Đứng từ xa nhìn lại núi Bái trông như hình con trăn đang trườn mình săn mồi. Mỏm núi phía Đông trông chính diện không khác gì con rắn hổ mang chúa đang ngoác miệng bành cổ cong lên trong tư thế mổ. Cú mổ quyết định tiêu diệt con mồi. Càng đến gần núi Bái trông lại giống con voi nằm phủ phục bái vọng về phía biển. 

More...

MẬT DANH AZET

By

 

7   

CHUYỆN CỦA VỊ CHỈ HUY TRƯỞNG

 

Vừa chợp mắt thiu thiu ngủ Thiếu tá Trịnh Toàn đã nghe tiếng kẻng báo thức. Ông choàng dậy mặc quần dài rồi đi xuống dưới sân cùng tập thể dục với anh em cán bộ chiến sĩ. Ông đưa mắt nhìn quanh. Chính trị viên Song Hoa cũng đã đứng đầu hàng phía bên phải đang cùng anh em cán bộ chiến sĩ dàn hàng đội hình tập thể dục.

Đợi cho sĩ quan trực ban điều hành tập xong ba bài võ thể dục Thiếu tá Trịnh Toàn đi nhanh về phía chính trị viên Song Hoa. Chính trị viên Song Hoa cũng nhận ra chỉ huy trưởng đang đi về phía mình. Ông đứng lại có ý chờ. Đến bên chính trị viên Song Hoa Thiếu tá Trịnh Toàn nói nhỏ chỉ đủ để hai người nghe.

- Ăn sáng xong anh đến phòng tôi. Tôi có việc muốn trao đổi với anh.

Nhìn nét mặt của chỉ huy trưởng chính trị viên Song Hoa biết có chuyện quan trọng. Là con người thẳng thắn bộc trực nên ông biết chỉ huy trưởng nếu có việc quan trọng là rất khó giấu. Khi có những việc quan trọng Trịnh Toàn thường mất ngủ. Chỉ nhìn vào hai mắt là Song Hoa có thể đoán được tối qua đã có việc gì xảy ra.

- Đêm qua anh lại không ngủ à?

- Vâng. Tôi không ngủ được. Tôi cũng đã định gọi điện mời anh sang phòng tôi ngay tối qua.

- Thế sao anh không gọi. Tối qua tôi cũng có ngủ được đâu.

- Thôi. Anh cứ đi ăn cùng với anh em xong rồi đến tôi cũng được. Tôi cũng phải ăn miếng gì lót bụng chứ tối qua thức khuya không có gì đấm bụng bây giờ cũng đang xót ruột.

Nói đoạn Thiếu tá Trịnh Toàn đi nhanh về phòng. Đứng nhìn theo dáng đi của chỉ huy trưởng Song Hoa tự nhiên thấy nhói đau vùng ngực. Anh vươn tay lên cao hít một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra. Anh cứ làm như thế bốn năm lần nữa rồi thư thả đi về phòng nghỉ của mình.

More...

MẬT DANH AZET

By

 

6

BÓNG MA

Chuyện cô Lù treo cổ chết ở hang ma vì ai vì cái gì thì dân làng La Khê chẳng cần phải ai nói cũng biết. Chuyện cô Lù thích thằng Lềnh ngủ với thằng Lềnh có chửa rồi nó bỏ trốn đi đâu biệt tăm biệt tích thì cả bản đều biết. Tục làng nó thế. Trai gái thích nhau cứ thích yêu nhau cứ yêu cho nhau cứ cho nhưng không được để có con. Con cái là của trời có rồi thì phải sinh phải nuôi. Không sinh được không nuôi được thì phải chết. Nếu không muốn chết thì bỏ làng mà đi. Làng bản không có người như thế. Nếu ở bản nào có kẻ đó thì bản sẽ phải chịu trời phạt làm cho đói khổ chết chóc. Nếu không chết cũng ốm quặt ốm quẹo bệnh tật đeo bám suốt đời.

Cô Lù vì yêu thằng Lềnh thích thằng Lềnh cho thằng Lềnh cái sinh con của mình nhưng nó lại bỏ bản đi thì cô Lù phải tự tìm đến cái chết thôi. Bản không thương bản không tiếc. Những người như thế không phải là người của bản. Nó là con ma rừng đầu thai vào người mà thành. Nó chết đi càng không phải bắt tội người bản được.

More...

MẬT DANH AZET

By

 

5

VÉN MÀN BÓNG ĐÊM

Mọi thông tin về hang ma có ma ngày càng dồn về Ban chỉ huy  công an nhân dân vũ trang Yên Hưng một nhiều thêm. Kéo tấm màn ri đô sang bên Tô Hồng Dân trưởng ban trinh sát ban công an nhân dân vũ trang Yên Hưng nhìn như dán mắt vào cái điểm chấm có dấu khoanh tròn tròn trên bản đồ khu vực có quyết tâm chiến đấu của đơn vị. Trên tấm bản đồ chỉ có mầu xanh thẫm cùng các đường nâu nâu vàng vàng nhỏ mảnh như sợi chỉ vắt loằng ngoằng tầng tầng lớp lớp. Nhìn vào bản đồ những dấu hiệu trên cho người xem nhận ra đây là khu rừng rậm và có độ cao nhất trong cả khu vực. Nếu từ độ cao này đứng trên đó có thể quan sát được toàn bộ khu vực rộng tới hàng chục ki lô mét vuông. Mặc dù chưa có dịp đặt chân lên điểm cao này nhưng những gì mà các nhà đo vẽ bản đồ thể hiện cũng đủ cho Tô Hồng Dân nhận ra sự gian khổ và nguy hiểm khi lên đây. Hướng có hang ma cũng là hướng trọng điểm địa bàn trọng điểm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị biên giới của đơn vị.

Nhìn kỹ lại một lần nữa tấm bản đồ trước khi kéo tấm màn ri đô che đi Tô Hồng Dân mở tủ hồ sơ tài liệu. Toàn bộ tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cho đến bố trí dân cư đời sống văn hoá kinh tế của các bản xung quanh chân núi và trong khu vực cũng vừa được anh em bổ sung song các con số còn rất sơ sài gần như còn trống trơn. Ngồi lại bàn làm việc Tô Hồng Dân đưa hai tay lên bóp bóp trán. Tô Hồng Dân cố nhớ lại những điều đã biết rồi xâu chuỗi lắp ghép nó thành một sự thống nhất theo trình tự.

More...

MẬT DANH AZET

By

 

4

KÝ ỨC CỦA LÒNG HẬN THÙ

Khi khoác chiếc tay nải về đến đầu làng Phan Lềnh thấy phía sân đình làng người bu đen bu đỏ. Thấy cảnh đó Phan Lềnh bụng bảo dạ chắc làng đang có chuyện lớn. Với tính cách của người làm báo khi trên đường về Phan Lềnh chỉ có mong muốn được nằm ngủ lấy lại sức. Nhưng về đến đầu làng thấy chuyện ấy Phan Lềnh không chịu được khoác chiếc tay nải vào xem. Tính cho đến nay Phan Lềnh đã phải đi bộ cả tuần trời mới về được đến đây. Ngày đi đêm nghỉ khát đâu xuống sông xuống suối đói đâu tìm vào nhà dân xin ăn. Cái ý chí khắc đi khắc đến của người cán bộ những ngày đầu cách mạng đã rèn cho Phan Lềnh điều đó. Chiếc tay nải tòng teng trên vai với bộ quần áo nâu nhiều lúc cũng làm cho đôi vai của Phan Lềnh mỏi đến rời rã. Bàn chân không muốn bước nhưng cái mong muốn được gặp gia đình thôi thúc Phan Lềnh. Đã quá lâu rồi Phan Lềnh chưa về nhà. Những tháng năm làm việc công tác trên vùng rừng Việt Bắc có công có việc thì thôi chứ được một phút thảnh thơi Phan Lềnh lại nhớ nhà đến nôn nao. Con chim có tổ con người có tông. Dẫu những năm tháng ở nhà Phan Lềnh cũng chẳng có vui nào nhưng cái tình gia đình thì khi đi xa rồi Phan Lềnh nhận ra nó thật lớn thật thiêng liêng.

Không kịp về nhà Phan Lềnh ghé vào sân đình nơi cả làng cả tổng đang tập trung. Tiếng quát tiếng chửi tiếng la ó rầm rầm huyên náo. Trong đám đông thỉnh thoảng lại có những cánh tay giơ lên. Trong cả rừng cánh tay ấy nào là đòn gánh đòn càn liềm gặt đưa lên đưa xuống tua túa. Mỗi khi cả rừng cánh tay cả rừng đòn gánh đòn càn cả rừng liềm hái giơ lên là một đợt sóng trỗi dậy. Những đợt sóng của lòng người từ âm thanh hừng hực lòng căm giận lòng uất ức. Những con sóng lòng người ấy có thể nhấn chìm tất cả phá nát tất cả mà không có thể có một vật gì che chắn che đỡ được. Đã từng làm cán bộ tuyên giáo Phan Lềnh biết. Cách mạng giành thắng lợi cũng chính là nhờ biết phát động những đợt sóng như thế này. Một lãnh tụ của nước bạn cũng đã từng nói: Quần chúng chỉ là con số không. Cán bộ là con số một. Nếu các con số không có dài đến bao nhiêu thì cũng vô giá trị. Nhưng nếu có người cán bộ biết khơi dậy xếp hàng các con số đó theo trật tự và người cán bộ đứng đầu dẫn dắt dãy con số quần chúng đã xếp hàng theo trật tự thì sẽ là một sức mạnh. Sức mạnh đầy ý nghĩa. Một sức mạnh như sóng dậy triều dâng.

More...

MẬT DANH AZET

By

 

3

TRÊN ĐỈNH CON CÓC

Cứ theo các câu chuyện truyền miệng hang ma không chỉ còn là sự huyễn hoặc mà đã là một sự sợ hãi và là nỗi lo của nhiều người. Câu chuyện được thêu dệt qua người này sang người khác ngày càng thêm huyền bí và đáng sợ. Theo miệng lão Tảng và mụ Đoác thì mấy hôm nay trên hang ma đêm đêm thường xuyên xuất hiện những bóng ma trơi bay lập lòe lởn vởn trong khu rừng. Chúng bay rất nhanh. Đằng sau đường bay chỉ để lại những ánh sáng như vệt sao băng. Những vệt sao băng ấy cũng chỉ nhỏ như một tàn đóm khi người ta hút thuốc lào búng que đóm quá tay làm bật văng ra xa. Những bóng ma trơi này không chỉ có vào những đêm mưa thâm tối trời mà đêm nào nó cũng xuất hiện.

Vào những đêm tối trời có mưa lâm râm thì những ánh lửa trông mờ mờ nhoè nhoẹt phất pha phất phơ. Những đốm sáng thi thoảng lại bùng lên rồi lịm xuống. Lúc sáng lúc mờ rất quái đản và cũng đầy bí ẩn. Những lúc như thế trông bóng sáng không khác gì mặt người dài nghêu vàng vọt của sự chết chóc. Phải ngày nắng ráo những bóng ma bay vật vờ lơ lửng tà tà ngọn cây. Những lúc ấy bóng ma lại giống hình mặt con trăn gió quăng mình rào rào từ cây này sang cây khác. Từ dưới chân núi Bái nhìn lên những bóng ma chả khác gì làn khói mấy người đi nương đốt củi nướng sắn nướng khoai làm khói bay lên vào các chiều. Những sợi khói mỏng tang như tờ giấy phất phơ bay lúc cuộn lên lúc xoắn lại lẩn vào trong màu xanh xanh thâm thẫm của cây rừng. Còn vào những đêm trăng sáng những bóng ma trơi ấy có màu vàng vàng đo đỏ. Màu lửa của ma như màu lưu huỳnh cháy. Nhìn lâu những vệt màu đỏ đòng đọc như máu chảy loang lổ rồi lại nhểu từng giọt từng giọt xuống đất.

More...

MẬT DANH AZET

By

 

2

BỨC MẬT ĐIỆN LÚC NỬA ĐÊM

Thiếu tá Trịnh Toàn rời bàn làm việc. Ông nhẹ nhàng bước ra phía cửa sổ. Phía ngoài khơi những cơn gió đẩy hơi nước về lành lạnh. Ông giơ tay cài lại chiếc cúc áo cổ. Hướng mắt về phía biển. Trên vịnh những ngọn đèn của vạn chài hắt vào đêm thứ ánh sáng bàng bạc mỏng như tờ giấy. Xen trong tiếng rì rào của sóng biển là tiếng lá ri ri từ rặng phi lao chắn sóng vọng về.

Đưa tay vuốt lại mái tóc bị gió làm lật nếp ông khép cửa rồi bước về bàn làm việc. Ánh sáng từ ngọn đèn dầu hiu hắt vàng vàng chiếu xuống bức điện mật của Ban Công an nhân dân vũ trang Trung ương vừa gửi. Ông đưa tay lấy tờ công điện ghé sát vào ánh đèn. Ông đọc chậm rãi như đếm từng con chữ trên trang giấy.

More...

MẬT DANH AZET

By

1

HANG MA

Hang ma lại có ma xuất hiện.

Lời đồn thổi nhanh như gió nhẹ như gió luồn lách vào từng hang cùng ngõ hẻm nơi gốc cây bụi ruối nơi xó bếp góc nhà. Lời đồn loang đi như lũ. Ầm ầm ào ào. Mấy bản xung quanh hang ma ngơ ngác. Bóng ma lởn vởn trong đầu trong giấc ngủ. Bóng ma ngồi cạnh người cùng ăn chung trong bữa cơm. Bóng ma trùm lên làng lên bản. Nơi đâu người ta cũng có thể nhìn thấy ma. Nhìn mặt ai cũng thấy ma. Hố mắt bánh má ai cũng hốc hác vì lo sợ. Nhìn những chiếc lá phật phờ bay nhiều người hồn vía đã bay lên tới chín tầng trời rơi xuống mười tầng địa ngục. Mặt xanh nanh vàng vì bóng ma ở hang ma cứ lởn vởn đè trong tâm trí.

Lão Tảng đứng dạng te he trên bến ngay trên bờ ngầm Ní Nà ngoác cái miệng cá ngão ra nói oang oang.

- Con ma trên hang ma lần này kinh tởm lắm. Trông nó to như trái núi Bái. Miệng nó ngoác ra thè cái lưỡi đỏ đòng đọc nhểu toàn máu là máu. Tối tối ma trong hang kéo đàn kéo lũ ra ngoài bay kín trời.

Nghe lão Tảng nói nhìn cái miệng lão trễ ra sức nặng về thông tin hang ma có ma càng làm cho người dân thêm tin vào câu chuyện và thêm sợ về các điều đang diễn ra. Đánh mắt nhìn mọi người. Như để khẳng định và tăng sức nặng cho những lời nói của lão vừa đưa ra. Lão Tảng nhìn sang mụ Đoác.

- Mọi người cứ hỏi mụ Đoác mà xem. Tối qua mụ Đoác còn bị ma nó vần cho mệt bở hơi tai ra đấy.

More...

DÒNG SÔNG LẠC LOÀI (CHƯƠNG 2)

By

DÒNG SÔNG LẠC LOÀI (Tiếp)                     

2      

Lão Được ngồi trong lòng thuyền đầu cúi xuống kẹp giữa hai gối kỳ cạch mài những chiếc lưỡi câu. Mài xong chiếc lưỡi câu nào lão mắc trả nó vào trong kẹp tre. Thỉnh thoảng lão ngoái đầu nhìn ra ngoài sông miệng lủng bủng chửi.

- Tổ sư nó. Mưa dầm mưa dề thế này lấy cứt mà ăn à.

Lão chửi trời chửi đất hay chửi ai. Chịu. Chửi ai chỉ có bản thân lão biết. Bà Tèo vợ lão ngồi nép bên trong phên nứa chắn cuối thuyền cứ cặm cụi vá lưới tịnh không dám lên tiếng. Nghe lão chửi luôn mồm bà cũng khó chịu nhưng mặc. Giây lời với lão lúc này chỉ tổ gặp vạ. Lão muốn chửi ai thì chửi. Miệng lão chửi thì tai lão nghe.

Từ ngày bà gắn cuộc đời mình với lão bà đã quen với chuyện này. Bà Tèo quen chuyện lão chửi như người ta quen khổ quen đau. Mặc dù cái đau cái khổ luôn làm người ta khó chịu.

Bà Tèo nhiều lần nghĩ tại sao trời đầy ải thân bà khổ thế. Khổ từ trong trứng khổ ra.Ngày còn bé hay lũn cũn theo mẹ đi chợ thỉnh thoảng mẹ bà kể cho nghe chuyện khi có chửa bà. Khi mang thai bà được ba bốn tháng. Giữa trưa mẹ bà đi chợ về mệt quá thấy hòn đá cạnh đường mới ngồi xuống nghỉ. Có ai ngờ tối hôm ấy về đến thuyền thì mẹ bà cứ thấy nước chảy ra ri rỉ. Lúc đầu mẹ bà cũng chỉ nghĩ là chuyện phải đi chợ gặp ngày nắng nóng nên xảy ra như thế. Mẹ bà cho là chuyện bình thường nên không thuốc thang gì. Ba bốn ngày sau thấy có khí hư người mệt mỏi. Khi đến thầy lang khám mới biết bị động thai. Nước từ trong ối chảy ra. Ngày đó mẹ bà đã nghĩ không giữ lại được. Còn nước còn tát. May sao gặp thầy lang giỏi giữ lại được chứ không bà đã không có mặt trên đời. Sau khi sinh bà mẹ bà cũng không sinh nở gì được nữa. Vì thế ông bà cũng đi với người khác để mặc mẹ bà với bà ở lại trong căn nhà thuyền.

Có hai mẹ con sống với nghề sông nước có biết bao nhiêu là vất vả. Cơm chẳng có mà ăn áo chẳng có mà mặc. Đêm đêm hai mẹ con đắp chung chiếc váy vá chằng vá đụp. Cũng vì thế khi bà xuất giá mẹ bà lo lắng dặn đi dặn lại rằng trong đời người lấy chồng phúc phận nhà người. Chồng con có mắng chửi hắt hủi vất vả đến mấy cũng cố mà chịu. Đời sông nước không có người đàn ông thì không có khổ nào bằng. Mẹ bà cũng dặn khi có mang chớ bao giờ ngồi lên đá nóng. Gái chửa cửa mả một lần sẩy bằng bẩy lần đẻ. Nếu có sao chỉ mình chịu chứ chẳng ai gánh chuyện đó cho mình. Gánh nặng trên vai bảo có người còn gánh đỡ. Gánh nặng ở đời không ai dám ghé vai vào gánh cho đâu. Nếu có ai đó nói rằng thương cũng chỉ là thương ôi nói đãi bôi.

Nhiều đêm bà Tèo vẫn nghĩ giá ngày đó trời không cho bà có mặt trên đời có khi lại sướng. Không làm người bà không phải chịu cảnh đầy ải của bao nỗi nhọc nhằn. Con sâu cái kiến có khi còn sướng hơn bà. Nó chẳng phải chịu sự trói buộc nào. Có chăng chỉ là cái ăn mà thôi. Cả quãng đời bà đã sống là cả những quãng đời không một ai có mặt trên đời mong muốn. Nhiều khi nó như là nghiệp chướng. Đã có lần bà không muốn sống nhưng trời không cho bà chết bắt bà phải sống mà chịu nghiệp chướng ở đời. Thằng Măng chính là nghiệp chướng của đời bà. Cứ mỗi lần nhớ đến chuyện cũ chuyện mà đời bà đã phải gánh chịu bà lại thấy không thiết sống. Bà thấy lạnh gai cả người. Bà chỉ mong nhanh hết ngày hết tháng để bà về nhanh với tổ với tiên. Nơi ấy có lẽ là hạnh phúc nhất của đời bà. Hạnh phúc không phải làm kiếp con người.

Chiếc thuyền câu nhẹ nhàng lướt đến nép sát vào cạnh thuyền nhà lão Được nó dừng lại. Do dừng đột ngột chiếc thuyền câu bị lớp sóng phía sau trườn đến nâng phía đuôi hơi vểnh lên rồi mới hạ xuống. Nó cứ dập dềnh trên sóng như thế. Người ngồi trên thuyền câu đưa tay bám hờ vào chiếc nhà thuyền của lão Được đỡ cho nó không va quệt vào mạn thuyền. Chẳng cần nhìn ra ngoài lão Được cũng biết đó là thuyền câu của lão Vược. Lão Được tay vẫn dũa lưỡi câu miệng đánh tiếng ra ngoài.

- Lão đi đâu về sớm mấy. Lên làm chén rượu chứ?

- Hầy. Đi thả mẻ lưới kiếm con cá uống rượu cho đỡ buồn. Mưa nên chán lắm. Chỉ được mấy con cá mù. Thấy lão có nhà ghé qua hỏi thăm tý thôi.

- Mưa nắng thế này chắc năm nay đói rã mép ra mất.

- Lão lo xa quá. Còn nước lo gì không có cá. Khúc này hết cá ta đi khúc khác.

Bà Tèo ngồi cuối thuyền tay vẫn đang dùng ghim vá mấy đoạn lưới bị rách. Hôm qua đi thả lưới ở khúc Rủ. Lưới năm xen một loại lưới dùng để đánh bắt cá chép trôi rô diếc. Không ngờ gặp con cá măng cỡ phải mười tám hai mươi cân vào lưới phá rách. Tiếc mà chịu. Đã không bắt được lại bị nó làm rách lưới tiếc của giời lão Được lủng bủng chửi suốt buổi. Lão thề thế nào lão cũng phải bắt bằng được con măng này lấy bong bóng uống rượu.

Ngồi vá lưới nghe chuyện của chồng và lão Vược bà Tèo nối lời.

- Các ông bảo đi đâu? Đi đâu chả sông này nước này. Liệu có đi mãi được không?

Không để bà Tèo nói hết câu lão Được gầm gừ trong họng giọng cáu cẳn.

- Biết cái gì mà chõ mồm vào. Lại thấy mấy nhà trên bờ có ruộng xa đồng gần tớn mắt lên. Cứ tưởng lên bờ là có nhà ngói cây mít ngay đấy. Thích cứ lên đi. Rồi cháo không có mà húp.

- Ơ hay hai cái ông bà này. Rõ là chán - Lão Vược vội lên tiếng - Động tý là cứ ầm ầm lên làm sao. Thôi. Tôi về đây. Tối lão sang tôi làm chén rượu nhạt nhé.

Như tiện tay lão Vược quẳng lên sạp con cá rói còn giẫy đành đạch.

- Trưa nói mụ vợ nấu canh chua mà ăn. Cá rói khúc Trầm đấy.

Dứt lời lão Vược vung tay nhấn sâu hai cái cặp về phía trước kéo mạnh xuống phía đuôi thuyền. Chiếc thuyền hơi vểnh đầu lên rồi nhẹ nhàng lướt đi. Trông hai tay lão Vược bơi thuyền khoắng khoắng hai bên mạn chẳng khác gì mấy chị trong gánh hát chèo làng Đông thỉnh thoảng lại về thôn Nang diễn. Chèo được một quãng lão Vược lại dùng tay gõ cặp tay chèo vào thành chiếc thuyền. Tiếng cặp tay chèo đập vào chỗ cạp trên của con thuyền câu lạch cạch lạch cạch. Tiếng gõ mạn xua cá mỗi khi đi thả lưới. Phía sau chiếc thuyền câu vệt sóng rẽ sang hai bên hình rẻ quạt táp nước vào bờ nhè nhẹ và tan đi như những vệt sao đổi ngôi hằng đêm.

Thuyền lão Vược đi rồi lão Được miệng vẫn chửi lủng bủng. Cứ mỗi khi có ai nhắc xa nhắc gần hay có ý nói nhắc nhở đến chuyện đất liền là lão lại thấy lộn hết cả ruột. Cả đời lão cả bố lão thậm chí cụ kỵ ông bà nhà lão nào có ai biết gốc gác quê quán ở đâu. Lão có nghe nhưng đấy chỉ là bắc chõ nghe nồi hơi chứ có cái gì bảo đảm. Từ ngày lão có mặt trên đời lão chỉ thấy con thuyền nhà lão phiêu bạt nay đây mai đó. Đậu đâu là quê nghỉ đâu là bến. Khúc sông còn cá thì ở hết cá lại nhổ sào chèo đi nơi khác. Gạo chợ nước sông. Bao đời nay nhà lão vẫn thế mà có thấy chết đói bao giờ đâu. Lão biết bà Tèo vợ lão thích lên bờ lắm. Đã đôi ba lần bà nhỏ to nhắt nhỉ nói xa nói gần chuyện đó với lão. Chẳng lần nào lão muốn nghe. Chỉ cần nghe được câu trước câu sau là lão đã chửi. Lão muốn dẹp ngay cái tư tưởng nhăm nhe lên bờ với chả tình làng nghĩa xóm. Với lão lối nghĩ của bà vợ chẳng khác gì chuyện mơ tưởng hão huyền. Lão nghe mà ngứa cả tai.

Mải nghĩ chuyện của vợ lão Được không để ý dũa trượt ra ngoài chiếc lưỡi câu đâm sâu vào tay. Lưỡi câu thả được làm bằng sợi thép nhỏ. Loại thép để làm lưỡi câu loại này thường phải mua của cánh thợ cầu. Họ thường chặt trộm các đoạn dây cáp rồi đem bán. Mua về người làm lưỡi câu phải gỡ từng sợi ra đem giãn cho thẳng cắt từng đoạn ngắn vừa tầm uốn lưỡi. Xong một đầu uốn một vòng nhỏ chỉ đủ luồn sợi dây cước để nối với dây thả có nơi còn gọi là dây ràng. Sợi dây này khi thả câu được kéo từ bờ bên này sang bờ bên kia. Phía đầu dây thép còn lại dùng dũa dũa cho nhọn sắc. Sau khi đã làm xong các công đoạn trên dùng kìm đặt sợi thép đó vào một cái giá uốn lại hình chữ u. Khi uốn xong thành từng chiếc lưỡi câu lúc đó lại phải dùng lửa than cốc nung nóng lên tôi vào nước muối đặc. Đến khi đó mới có thể buộc vào dây thành dây câu thả xuống sông bắt cá được.

Những chiếc lưỡi câu đã tôi xong chúng rất cứng và giòn. Nếu ai không biết đem uốn cho thẳng lại là sẽ gãy ngay. Sau mỗi lần thả thu dây câu về phải dùng dũa dũa lại lưỡi cho bén tẩy hết phần gỉ vàng bám vào lưỡi đi. Giống cá nó thính lắm. Lưỡi câu thả chỉ cần có mùi tanh tanh của thép gỉ là chúng nó tránh được hết. Lúc ấy có đem thả câu cũng chỉ là công cốc.

Vì lưỡi câu tôi trong nước muối đặc nên khi con cá vướng vào đâm vào da chúng bén và ăn rất sâu buốt. Khi đó con cá càng vùng vẫy muốn thoát lưỡi câu thì lưỡi câu càng đâm vào sâu. Càng đau con cá càng cố giẫy làm cho dây câu căng ra những chiếc vỏ ốc nắp bật lửa hỏng buộc ở hai đầu cọc dây ràng làm tín hiệu rung lên. Nghe tiếng kêu người thả câu biết để chèo thuyền ra gỡ bắt cá.Trong tất cả các loại động vật lão Được thường nghĩ loài cá chính là loại ngu nhất. Theo lão Được lý giải ở đời người chết vì của kiến chết vì mỡ cá chết vì mồi. Đằng này lưỡi câu lão đem thả sông có mồi đâu. Giá lão mắc mồi mà chết cho cam. Đây lão không hề mắc lấy một tý mồi gọi là. Lưỡi câu lão thả sông là lưỡi câu không nhưng loại cá sống dưới nước có mắt mà cũng như mù chết vì ngứa ngáy đú đởn.

Giống cá khi bơi theo dòng nước gặp cái gì trôi vật vờ là ngoe nguẩy lượn lờ cọ thân vào đó. Chính vì tội gặp cái gì vật vờ cũng nghĩ là tử tế hiền lành ngứa ngáy cọ mình vào đú đởn làm dáng. Dây câu lão làm sắc là thế bén làm vậy khi lão thả xuống sông các lưỡi câu cũng trôi theo nước vật vờ ve vẩy chúng mới cọ mình vào. Khi cá cọ mình vào dây câu các vẩy lại nở ra và thế là các lưỡi câu lưỡi hái của thần chết đã chờ sẵn. Chỉ cần chúng chạm vào các lưỡi câu lão buộc theo dây ràng đang đung đưa ấy sẽ vướng vào kẽ vẩy và cắm sâu vào thân. Khi lưỡi câu của lão đã cắm vào thân thì đừng nói con nào chạy thoát. Khi các vỏ ốc vỏ bật lửa buộc đầu dây ràng rung lên lúc ấy lão chỉ còn mỗi việc bơi thuyền ra lần theo dây luồn chiếc vợt xuống dưới và thế là hết đời. Cũng vì thế khi người thả câu dũa lưỡi phải rất tập trung. Chỉ cần sơ sẩy lưỡi câu sẽ đâm vào tay ngay. Khi bị lưỡi câu đâm vào tay để lưỡi câu dính trong da còn đỡ buốt. Rút lưỡi câu ra thì buốt lên tận óc.

Rút chiếc lưỡi câu ra khỏi ngón tay lão Được đút luôn vào mồm hút. Lão dùng tay kia thò vào trong quần giật mạnh. Lão xoè tay cho những chiếc lông rơi xuống mặt sàn rồi xoa xoa vê cho những chiếc lông lão vừa giật ra vón lại. Lão rút ngón tay đang đút trong mồm ra đắp đám lông ấy vào chỗ bị lưỡi câu đâm.

- Mẹ cha nó chứ. Sao mà buốt thế.

Tự làm lưỡi câu đâm vào tay mình lão Được không biết chửi ai đành chửi đổng. Lão vứt dây câu lại với tay lấy tích nước. Lão đưa mắt nhìn áng chừng số lưỡi câu đã dũa xong. Với tay kéo ấm tích. Rót một bát nước đầy lão đưa lên uống một hơi. Xong lão lấy ống tay quệt ngang miệng.    

Mưa đã tạnh mặt sông trông sáng những con sóng nô đùa đuổi nhau hết lớp này sang lớp khác. Nhìn các con sóng đuổi nhau lão Được lại nhớ lão Vược có một lần nói với lão. Cuộc đời sông nước cũng như các con sóng suốt đời cứ chạy đuổi theo cái điều không tưởng nhưng lại hạnh phúc. Nghe lão Vược nói lão kệ. Lão chỉ thấy thật vớ vẩn. Chúng cứ đuổi nhau như thế cả một đời không biết chán. Theo lão ở đời việc gì phải cứ tự làm khổ mình vì sự hão huyền ấy. Ai đuổi thì đuổi chứ lão đấm thèm vào. Lão không nói lão Vược lại tưởng lão không biết gì cười. Đúng là dớ dẩn.

Lão Được dợm chân đứng dậy. Ra đầu thuyền đứng lên tận cùng của mui lão vạch quần ra đái. Lão lắng tai nghe tiếng nước rơi. Những giọt nước từ trên cao rơi xuống mặt sông nghe long bong. Lão ngoái đầu nhìn sang phía bên kia bờ nơi cái bến đầu làng chiều chiều mọi người ra gánh nước về đổ bể. Bất giác lão rùng mình. Một cảm giác lành lạnh chạy dọc thân người. Lão chợt nhớ. Từ chiều đến giờ không thấy thằng Măng đâu. Chẳng cần quay đầu trở vào phía trong nhà thuyền lão hỏi bà Tèo.

- Thằng Măng đi đâu từ đầu chiều đến giờ không thấy mặt? Chắc lại tý tởn vào trong làng rồi phải không?

Nghe tiếng lão hỏi bà Tèo biết lão lại sắp nổi khùng. Tiếng lão hỏi rít qua kẽ răng như các đêm mưa to gió lớn tiếng gió luồn qua các kẽ liếp ống tre trên vòm thuyền âm âm u u.

Con vàng trốn mình trong hốc khoang đầu mũi thuyền thấy động thò đầu ra nhìn. Nhìn thấy lão Được lên đầu mui nó cong lưng cũng ra dáng mệt mỏi. Rồi nó bước xuống lòng thuyền lép tép uống nước. Nghe tiếng lão Được hỏi vợ nó lại chui vào trong hốc cái khoang mà có lẽ ông chủ dành riêng cho nó. Khoanh mình trong khoảng không gian chật hẹp nó giúi đầu vào giữa hai chân sau cụp tai lim dim mắt.

- Ông chả sai nó vào làng mua dầu là gì. Muốn gì cũng phải chân đi chân bước chứ thiên hạ họ mang hầu tận mặt cho đấy.

Nghe bà Tèo trả lời biết vợ nói năng thách mé với mình nhưng lão Được không thèm để ý. Lão mà nói ra bây giờ có khi hai vợ chồng lại to tiếng. Giống đàn bà nó thế. Đứng núi nọ trông núi kia. Không được theo ý mình thì cắm cẳn như chó cắn ma. Ra lời cho phí.

Lão chui vào trong khoang lật miếng sạp lát sàn thò tay lôi lên chiếc lọ sành nút lá chuối. Với tay lão lấy cái bát úp cạnh mạn gần khoang đuôi. Rót rượu từ chiếc lọ sành ra cái bát lão nâng lên từ từ rồi nhấp nhấp từng ngụm một. Lão muốn để từng giọt rượu ngấm dần ngấm dần vào từng mao mạch. Lão chờ cho rượu chảy qua cuống họng thấm cái cay cay nồng nồng nong nóng lăn theo các đường dẫn tiêu hoá xuống dạ dày. Đời lão chưa bao giờ say rượu. Có chăng lão say cái hương thơm thơm của hạt gạo lật ủ trong men các vị thuốc bắc để chưng cất lên cái chất cay cay mà lão vẫn cho rằng đó là một phần của đời người. Lão lắng nghe những giọt rượu tí tách luồn lách vào từng tế bào trong cơ thể. Lão cảm nhận chất nong nóng cay cay ngấm trong tế bào lan toả ra da ra thịt. Những lúc lão bực bội vợ con lão lại lôi rượu ra uống. Uống rượu vào lão thấy mọi bực tức tiêu tan những tức tối bị cái chất nong nóng cay cay của rượu đẩy ra khỏi cơ thể. Lão thấy lão lại được thanh thản trở lại.

Lão kéo chiếc điếu bát vào sát lòng đặt giữa hai chân gạt gạt sợi thuốc vương còn bám quanh miệng lõ. Móc gói thuốc lào ủ trong cạp quần lão chậm chạp mở từng lớp cái túi áo mưa mà vợ lão khâu dối khâu dá cho lão đựng thuốc khỏi phải gói trong miếng giấy xi măng. Xé từng sợi thuốc lão véo ra tay vê vê cho tròn rồi nhẹ nhàng đặt vào miệng lõ. Cẩn thận như khi lấy thuốc lão cầm chiếc đóm ruột tre ngâm gẩy gẩy lên miệng lõ rồi lần trong túi áo lấy chiếc bật lửa. Chiếc đóm bắt nhanh ngọn lửa. Đợi cho lửa cháy không còn khói lão Được đưa ngọn lửa vào trên miệng lõ. Lão nhấp nhấp mấy hơi ngắn rồi ép ngực kéo một hơi dài. Ngửa cổ lên lão nhả từng tý một tý một lượng khói thuốc. Xong lão tựa lưng vào thành thuyền đôi mắt lim dim.

Con thuyền tròng chành tròng chành một thoáng rồi thôi.

Lão Được lại cậm cạch dũa. Tính lão vốn thế. Làm cái gì chưa xong là lão rất khó chịu. Mới lại chỉ còn hơn chục chiếc lưỡi nữa là xong. Lão cố làm cho gọn. Mang ra thu vào dây câu cũng rách việc không phải lúc nào cũng bầy ra làm được. Dây câu mà rối thì không tài nào mà gỡ. Lúc đó chỉ còn mỗi cách lấy dao cắt các lưỡi ra buộc lại dây mới đành phải bỏ phí đoạn dây ràng buộc cũ. Bất chợt lão Được nghĩ. Có khi lão phải dùng dây câu để bắt cho được con cá măng trên khúc Rủ bữa trước đã làm rách lưới của lão.

Từ hôm bị con cá măng đâm thủng lưới không lúc nào là lão từ bỏ tính toán để bắt lại. Lão hậm hụi lắm. Đời sông nước của lão có con cá nào đã vướng vào lưới của lão thoát được đâu. Thế mà. Lão bực cũng bởi vì lẽ đó.

(Còn tiếp)

             

More...

DÒNG SÔNG LẠC LOÀI

By

PHẠM THANH KHƯƠNG       

DÒNG SÔNG

LẠC LOÀI  

Tiểu thuyết

*****                                                                    

 NĂM 2007                                                                                                                                                                                   

MỖI CUỘC ĐỜI LÀ MỘT DÒNG SÔNG.                                                     

 CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU ĐỔ VỀ BIỂN CẢ.                                                                                                           

 1   

  Chiều muộn.

Một vài cơn gió lạnh hiu hắt thổi. Trên trời con chim nhạn lẻ bày vỗ đôi cánh trễ nải.

Chiếc ô tô hiệu BMW từ từ dừng lại bên này cầu trên đường vào phía nam của làng. Chiếc BMW dừng lại một lát rồi từ từ lùi nép vào bên gốc cây phi lao còn sót lại phía dưới mố cầu nơi rẽ vào con đê. Chỉ cần nhìn đám bụi đất bám bên ngoài người ta sẽ nhận ra ngay chiếc xe vừa phải trải qua một chặng đường dài. Bụi đất bám thành từng mảng bong ra rơi xuống lộ rõ lớp sơn xe đen sẫm bóng anh ánh như màu than cốc. Con đường vào làng vắng hoe vắng hoắt. Mặt đường trải nhựa vài ba chỗ đá nền lồi lên trên dơ dáy. Thi thoảng vọng từ trong làng ra tiếng chú gà trống mới tập gáy tè té te nghe non nớt yếu đuối. 

Cánh cửa xe bật ra. Một người đàn ông tuổi ngoài năm mươi từ trên xe bước xuống. Chiếc giày da đen loang loáng như bôi mỡ bóng soi rõ khuôn mặt người đang đi trên nó. Chậm rãi thư thả người đàn ông đặt từng bàn chân xuống mặt đường. Ra khỏi xe người đàn ông lấy gót chân ẩy mạnh vào cánh cửa. Xong lấy hai tay nâng xốc xốc lại chiếc áo cho ngay ngắn. Đưa tay xuống chiếc khuy phía cuối kéo vạt áo cài cúc. Hình như nghĩ sao đấy người đàn ông lại cởi cúc áo để bộ com lê theo kiểu khoác trần. Chiếc ca ra vát bằng lụa tơ tằm đung đưa trước bụng. Đảo mắt nhìn nhanh xung quanh người đàn ông thong thả bước. Mỗi bước chân người đàn ông như đo đếm độ dài của đất. Thỉnh thoảng người đàn ông lại dừng bước ngẫm ngợi về một điều gì đó.

Bước xuống theo xe là một người đàn ông khác còn trẻ. Đi đến bên người đang thong thả bước phía trước giọng nhỏ nhẹ.

- Anh có cần mũ không ạ.

Bằng một động tác rất diệu nghệ người đàn ông tuổi ngoài năm mươi búng ngón tay.

- Khỏi.

Tiếng nhỏ nhưng giọng nói nằng nặng. Giọng nói của dân sông nước. Chân vẫn chậm chạp đưa từng bước một người đàn ông lẩm nhẩm.

- Hơn bốn mươi năm rồi. 

Hơn bốn mươi năm rồi hôm nay Măng mới trở về nơi khúc sông mà cả gia đình đã sống. Những năm tháng lưu lạc xứ người vì miếng cơm manh áo chẳng mấy khi Măng nhớ về nó. Hoạ hoằn mỗi khi thắng được quả đậm lúc trà dư tửu hậu lúc gánh nặng đường đời trĩu vai lúc quanh mình cô quạnh lẻ loi không bạn hữu hoặc được khi thảnh thơi thư rỗi thanh nhàn lúc ấy bất chợt nỗi nhớ quê mới ập về mơ hồ chập chờn thảng thốt.

Với Măng nơi đây là quê đấy nhưng cũng không phải là quê đấy. Nơi đây Măng không sinh ra và cũng không lớn lên nó chỉ là một nơi mà ngày xưa gia đình hay về đây cắm sào nghỉ ngơi sau một quãng dài thời gian làm ăn lênh đênh sông nước. Bến sông nơi cắm sào đậu thuyền chỉ là một điểm dừng chân như bao nơi khác mà gia đình Măng đã đến cắm sào đậu lại. Nơi ấy cho dù có cắm sào cả đời thì vẫn cứ là bến người không phải của mình. Đất quê mà không được gọi tên nơi lớn lên mà dửng dưng như xa lạ. Nơi cơm ăn nước uống hằng ngày mà không được lưu giữ trong hồ sơ sổ sách dẫu chỉ là cái cớ thói quen hành chính.

Bên kia cầu đã là làng rồi. Chiếc cầu bê tông mới được dựng còn nguyên các dấu tích của cánh thợ để lại. Các thanh dầm còn ngổn ngang hai bên mố. Một vài chỗ lớp bê tông vương vãi đông kết nổi lổn nhổn cạnh vệ đường. Mấy gian nhà tạm bốn mặt thưng gỗ cốp pha làm chỗ ăn ở cho các kỹ sư cán bộ kỹ thuật kiểm tra giám sát công trường chưa kịp tháo dỡ nằm im lìm bên khóm chuối phía trong đê. Những miếng gỗ cốp pha ghép tạm hở hông hốc lộ cả những tờ giấy báo dán che các khe hở bị bục phật phờ. Trên mái mấy tấm tôn có ai đó đã lấy đi để lộ ra những cái khung thép han gỉ. Nền nhà ngổn ngang giấy và túi ni lông dùng đựng thực phẩm đi chợ thải ra. Gian giữa đám tro bếp còn vương vãi bên cạnh ba hòn đá hộc kê làm chỗ bắc nồi. Mặt nền nhà lỗ chỗ gồ ghề mấp mô do bổ củi hay ai đó khoan khoét để cắm cọc mắc màn chống cây giữ vách. Bám quanh nhà những khóm cỏ chỉ cỏ gừng cỏ may mọc cao ngang tầm ngực. Trên mặt sông những mảng bèo sen lều bều trôi. Các loại giấy túi ni lông cỏ rác gỗ phế thải vật vờ trên mặt sóng.

Nằm giáp vào hai bên bờ gần chân cầu từng khoảnh rấp cá ken sát vào nhau. Nhìn những cái búi rấp cá Măng biết đây là búi rấp cá của mấy nhà bên sông bắt chước các gia đình làng chài. Búi rấp cá của người làng chài thường có vài ba cái cờ treo các đầu cọc cắm quanh búi. Những chiếc búi này không có những chiếc cờ nhỏ có hình tam giác ấy.

Búi rấp cá là những bó chà rào đem dựng dưới sông rồi mang cọc tre cắm giữ quây lại. Mỗi búi rấp cá thường rộng bằng ba bốn cái chiếu đôi. Bầy cá sông thường dựa vào những chiếc búi này để làm tổ hoặc rúc vào trong các búi chà rào để lẩn tránh khi có động. Sau khi bỏ búi khoảng hai mươi ngày đến một tháng nghĩa là đám bèo sen thả trong búi đã đẻ kín những con cá đã quen chỗ ở nơi trốn chạy khi có động thì mang đăng quây bốn xung quanh dùng các rổ xúc loại to luồn xuống sát mặt bùn giáp các bó chà rào đã đặt. Lấy tay lật nhanh bó chà rào vào rổ rồi nâng nhanh lên. Các loại cá có vẩy thường không còn trong búi nữa nhưng các loại cá da trơn như trạch chấu trê bò thì thấy động càng rúc sâu vào trong búi chà rào. Đến lúc này chỉ còn mỗi việc lấy tay nhặt từng con cho vào chiếc vịt tre.

Cá trạch chấu thường dài từ ba đến bốn mươi phân. Con nào trưởng thành thì có độ dài tới sáu bảy mươi phân. Da loài cá này ram ráp có màu xam xám. Chạy dọc sống lưng của chúng thường có một lớp xương gai sắc được liên kết với nhau bằng lớp màng mỏng. Khi bị tấn công các xương gai dựng đứng lên như một hàng rào chông. Lúc đó chúng dùng thân mềm dẻo như lươn cuộn người lên để các xương gai đâm vào đối thủ. Khi bắt cá trạch chấu người ta thường phải chẹt vào đầu tay kia cầm túm bèo sen giữ thân không cho nó quật lên trên. Nếu vô tình để các xương gai đâm vào tay những răng cưa bên xương gai sống lưng sẽ xé nát da nọc độc ngấm vào bưng mủ làm hoại tử phần bị nhiễm độc. Cũng vì thế mà khi đánh búi có trạch chấu người ta thường dùng cây gậy đập cho nó mệt rồi mới bắt. Thịt cá trạch chấu nạc thơm. Kho khô ăn ngầy ngậy.

Khác với cá trạch chấu cá bò có hình tam giác dáng như lưng con bò mộng. Đây cũng là loại cá da trơn toàn thân được phủ màu vàng bóng. Trên lưng có một chiếc xương dài cứng và có đường răng cưa. Hai bên mang cá bò có hai chiếc xương cũng dài như xương lưng. Đây cũng chính là vũ khí để tự vệ. Khi bị tấn công chúng nguẩy đuôi bơi đi hai chiếc xương này toẽ ra đâm vào đối thủ. Muốn bắt cá bò phải lựa kẹp hai ngón tay vào sau hai chiếc xương gai này ngón tay cái chẹt phía miệng thành thế khoá. Đến lúc này chúng chỉ còn ngoe nguẩy được đuôi không đâm hai xương mang vào tay được. Thịt cá bò ngon lành và nhiều chất dinh dưỡng hơn cá chép. Người làm nghề sông nước khi đánh bắt được cá bò ít khi bán thường giữ lại để ăn.

Cá trê ở búi rấp sông thường to hơn cá trê ao. Chúng cũng có thân mềm như cá trạch chấu nhưng ngắn hơn trên lưng không có hàng xương cứng mà chỉ là lớp màng mỏng. Chúng có hai chiếc xương cứng sắc nhọn ở hai bên mang. Cá trê cũng như cá bò chúng dùng hai chiếc xương này làm vũ khí để tự vệ. Cá trê ao thường có màu da đen còn cá trê sông con nào béo sống lâu năm còn có màu vàng phơn phớt nhạt. Cá trê thường ở theo đàn làm tổ sâu trong đất. Có những hang chúng ở tới vài ba trăm con. Ở đầu cá trê có hai mẩu sụn hình cái hoa khế. Khi làm thịt dùng dao đập ngang đầu con cá lấy hai miếng sụn hình hoa khế đó bỏ đi. Theo kinh nghiệm người xưa hai miếng sụn hình hoa khế khi nấu kho nó xác ăn không có chất song rất dễ bị hóc hoặc bụng dạ ai yếu dễ bị bệnh đường ruột. Cá trê nấu dưa chua hoặc luộc lên lọc thịt thái nhỏ xương giã lọc lấy nước nấu canh rau cải. Bát canh cá trê vừa ngọt vừa thơm lại giải nhiệt lợi tiểu. Ai đã một lần ăn canh cá trê nấu rau cải sẽ khó mà quên được hương vị ngon ngọt của nó.

Những ngày còn theo lũ trẻ trâu đi đánh búi Măng đã nhiều lần bị cá bò cá trê đánh xương vào tay buốt đến tận óc. Bao giờ bị như thế sau khi rút xương ở hai mang ra khỏi tay để đẩy hết chất độc ra ngoài dùng tay vuốt ép từ trên chỗ bị xương cá đâm vào để đẩy hết chất độc chảy ra theo máu. Bao giờ máu chảy ra chỉ còn màu đỏ tươi thì vạch quần đái vào đúng chỗ đó. Đang buốt là thế nhưng cứ đái vào đó là sẽ không còn buốt nữa. Lúc đó tìm đám cỏ nào tốt nhất là được cỏ mằn trầu hoặc cỏ gừng vơ đút vào miệng nhai. Khi đã nhai nát ra rồi thì lấy bã đắp vào chỗ bị thương. Nếu ở gần nhà chạy về vặt lấy một ít lông con cu ly đắp vào để cầm máu. Lũ trẻ làng khi bị như thế kêu hét ầm ĩ có đứa còn không chịu nổi đau vãi cả nước mắt quẳng cả cá leo lên bờ. Còn Măng những lần như thế chẳng coi là cái gì mặt tỉnh khô. Măng dùng tay kia gỡ con cá ra khỏi tay đập chết ném vào giỏ rồi cạp miệng hút cho hết nọc. Măng chẳng cần phải nhai cỏ hay đắp lông cu ly giơ tay đặt ngay lên đầu dùng tóc để rịt máu.Nhìn những búi rấp cá bất giác Măng giơ tay lên xem. Chỗ khẩu độ tay da sần sùi những vết sẹo nhỏ chồng lên nhau mờ mờ.   

Sau khi xúc hết các bó chà rào người ta dùng vợt gai lựa theo khung đăng đánh bắt số cá đã vào trong búi. Con cá khi bị rỡ bỏ nơi ẩn nấp là các bó chà rào lao đi chạy trốn. Khi đó chúng bị các tấm đăng đã vây xung quanh chắn lại. Có một số loại cá khôn hơn không lao ra các tấm đăng chắn chúng lặn xuống bùn hoặc chui vào các hang hốc ở bờ. Lúc đó con người lại lần theo chân đăng hoặc mò bắt trong các hang hốc lỗ cua nơi mà chúng chạy trốn.

Búi rấp cá là của từng gia đình một nhưng khi rỡ búi đánh bắt cá bao giờ cũng phải có đông người. Ngoài một số người đến cùng gia chủ rỡ búi những người trong làng cũng đến đánh hôi. Khi bắt được những con cá to thì phải trả cho người rấp búi. Những con cá nhỏ giá trị thấp thường được chủ rấp cá cho. Cũng có nhiều người tham khi bắt được những con cá to thường tìm cách giấu đi. Những người này thường giấu cá bằng cách lẳn vào cạp quần cuộn dưới đáy vợt. Bao giờ chủ búi cá tháo khoán chuẩn bị thu đăng lúc đó ai đánh được bao nhiêu hưởng bấy nhiêu không phải trả lại cho chủ búi rấp cá nữa họ mới ném lên bờ cho người nhà hoặc lấy ra cho vào vịt hoặc xiên vào xâu.

Chuyện này thường ít khi làm được vì người chủ búi rấp cá là những người có kinh nghiệm đánh bắt cá nên họ dễ phát hiện ra những người gian lận. Cũng vì thế những ngày đánh búi rấp cá rất hay xảy ra xô sát ẩu đả đánh nhau. Tuy vậy chuyện bắt con cá dưới sông với những người làm nghề sông nước chài lưới nó rất đơn giản không khó khăn gì nên họ thường bỏ qua coi như cá biếu. Hôm nào người chủ búi mà không rộng rãi và người đánh hôi không thật thà rỡ búi rấp cá thành cuộc ẩu đả đến vỡ đầu toạc mặt. Máu me chảy ngoe ngoét trên mặt tóc dính bết vào đầu. Máu lẫn vào nước bùn trong búi đo đỏ nhờ nhờ xám. Mùi cá mùi máu lẫn vào nhau tanh tanh nồng nồng. Sau những lần đi đánh cá hôi người trên bờ học được cách rấp búi và họ làm theo.

Những khúc sông có cá thì cơ man là búi. Có nhiều đoạn sông các búi rấp cá chạy dài hàng trăm mét. Chỉ có điều khúc nào có nhiều cá cá ngon người trên bờ không biết người làm nghề sông nước chài lưới mới có thể biết. Vì thế những người làm nghề sông nước chài lưới phát hiện đoạn sông nào có nhiều cá họ làm một số búi rấp cá thật xen thêm các búi giả. Đánh xong một lần người ta thường giả vờ chuyển đi khúc khác làm như khúc sông đó không còn cá để người trên bờ không mang chà rào đến rấp búi. Sau đó họ quay lại rấp búi tiếp.

Những chiếc búi rấp cá của người làm nghề sông nước chài lưới bao giờ cũng có hai ba cái cờ nhỏ hình tam giác treo trên các đầu cọc. Những chiếc cờ này như dấu hiệu đánh dấu chủ quyền của mỗi người. Nhìn cờ là người ta nhận ra búi của nhà ai. Việc treo cờ cũng để bạn chài ai đi qua có ý trông giúp hộ. Người trên bờ thường không có cờ vì họ có thể ra thăm búi thường xuyên được. Khó khăn sinh đạo tặc nên cũng đã có đôi ba lần búi bị đánh trộm lấy mất các bó chà rào rấp búi nhất là các bó chà rào đã rấp được hai ba lần có hà bám. Các bó chà rào loại này thường có mùi tanh tanh nên cá sông thường thích ở những búi loại như thế.

Những búi rấp cá quanh chân cầu bèo sen mọc đã quá tốt lấn ra cả ngoài cọc giới hạn xanh ngằn ngặt. Hoa bèo sen trong các búi rấp cá nở tim tím nhàn nhạt. Những bông hoa bèo sen trông như những cái chổi phất trần làm bằng lông gà. Bông hoa bèo sen được hình thành từ các cánh hoa đơn lẻ mọc ra ở các ngách cọng hoa. Những cánh hoa này mọc ra ép vào nhau thành từng lớp vuốt dài lên phía trên. Cánh hoa sen rất mỏng chỉ cần cầm vào là chúng có thể rách. Bên dưới cánh hoa có màu trắng đục càng vươn lên phía trên cánh hoa bắt nắng chuyển dần sang màu tím. Nhìn từ xa màu trắng ở phía dưới cuống bị các màu tím phía trên át đi nên tạo cho người nhìn ảo ảnh một màu tím của hoa. Hoa bèo sen chỉ nở từ ba đến bốn ngày thì tàn. Khi tàn cánh hoa bèo sen không rụng như các loài hoa khác mà chúng rũ xuống chờ cho cả bông hoa cùng rũ theo. Khi cánh hoa bèo sen tàn chúng rất dễ mủn chỉ cần một tác động nhẹ cũng làm các cánh hoa tim tím một thời nát ra thành từng mẩu nhỏ.Nhìn đám bèo sen trong búi rấp cá đây là những chiếc búi đã để lâu quây đăng đánh lúc nào cũng được. Những loại búi rấp cá này thường có rất nhiều cá da trơn. Hàng cọc cắm giới hạn các búi rấp cá rều rác bám đầy phía trên phơi nắng khô quắt queo. Con sông bị các búi rấp cá lấn chiếm gần hết phần mặt nước dòng chảy. Nếu không có các búi rấp cá con sông rộng bốn năm mươi bước chân. Thế mà bây giờ chỉ còn hẹp như con ngòi nhỏ. Giữa dòng nơi thuyền bè qua lại chỉ đủ cho vừa hai chiếc thuyền câu đi lọt. Vài ba dàn khung vó bè giơ lên phơi gọng nghều nghào. Mỗi khi có gió dàn vó lại kêu kèn kẹt kèn kẹt. Nước sông lờ lờ màu gạch cua. Bao giờ nước sông có màu lờ lờ gạch cua chẳng sớm thì muộn chỉ từ ba đến bốn ngày thế nào cũng có lũ về.  

Phía bên kia sông ngay sát chân cầu nằm về phía thượng nguồn là bến sông của làng. Bến vắng lặng con sóng bị đám bèo sen chặn lại không đủ sức xô vào bờ. Chúng chỉ còn là những đợt sóng dập dềnh vỗ táp bờ lép nhép. Hai bên bến phần mặt nước bèo sen lấn ra gần hết chỉ còn hở một khoảng bằng chiếc chiếu kéo dài ra phía dòng. Cây bàng cạnh bến sông giơ những cành khẳng khiu lên trời. Mùa đông về từng trận gió bấc rứt đi khỏi cây bàng từng chiếc lá. Gió ném thẳng từng chiếc lá lên cao rồi dúi xuống đất thả trôi sông vật vờ. Trên các mắt cành bàng vài ba cái chồi nhú sớm trông nâu nâu màu đất. Đứng bên này sông trông sang cây bàng bây giờ chỉ còn một màu xam xám. Mấy cái bậc lên xuống bến xây bằng gạch trải qua năm tháng sứt mẻ vỡ nhôm nhoam trông không khác gì hàm răng sứt vêu vao.

Nằm vắt trên mấy cái bậc là chiếc quần dài rách của ai đó ném lại. Chiếc quần như cái xác người nằm thườn thượt chân vắt lên bờ đầu cắm xuống nước. Bên mép nước lớp cỏ gừng cỏ chỉ lâu ngày không có người dọn mọc dài nghêu ngao đổ rũ xuống mặt sông.Con sông nằm kẹp giữa một bên là làng một bên là cánh đồng. Bờ sông phía làng các bụi tre gai ken đặc xanh ngằn ngặt. Các tay tre đan vào nhau nhằng nhịt che kín không có một khoảng hở nhìn vào làng. Tít trên ngọn cao vài ba con cò lửa đậu rỉa lông thỉnh thoảng lại ngoái ngoác đầu dò xét. Lúc lúc chúng lại nhảy lên rồi đậu lại ngọn tre gật gù lắc lư như say. Phía bên cánh đồng bám sát mép sông là con đê chạy ngoằn ngoèo cao hơn mặt sông chừng năm sáu mươi phân. Con đê chạy uốn lượn trông không khác gì con rắn đang trườn đi tìm mồi.  

Đồng lúa rộng mênh mông xanh ngăn ngắt. Lúa đang kỳ chuẩn bị làm đòng nên cả cánh đồng tịnh không một bóng người. Ngay đám trẻ trâu vào giai đoạn này cũng không dám đưa trâu ra chăn. Một quy định bất thành văn của các làng xã nông thôn là vào thời gian này gọi là kỳ cấm đồng. Trâu bò chăn thả dễ phá hỏng bờ ruộng làm cho nước thoát cây lúa không đủ để tích sức cho ra bông. Ngoài việc sợ làm hỏng bờ nếu chăn thả lúc này chỉ cần sơ xuất trâu bò ăn lúa coi như những chỗ đó không có thu hoạch. Có muốn cấy dặm cũng không mang lại kết quả. Trồng cấy bao ngày đến giai đoạn này là giai đoạn chờ kết quả. Nếu không công tưới tắm bón phân vạc bờ cuốc góc thành công cốc.  

 Thẫn thờ Măng đi dọc triền đê. Măng muốn cảm nhận tình cảm thực của mình về nơi một thời đã ở. Ngược lại phía dòng chảy Măng men theo con đê đi hướng lên phía thượng nguồn. Ngày xưa con đê này hai bên là rặng phi lao cao vút. Chiều chiều sau khi đã cùng lũ trẻ trâu chơi đủ các trò mệt nhoài lũ trẻ lại ngồi túm năm tụm ba trên mặt đê chơi trò nối lá. Chúng nhặt những chiếc lá phi lao khô rồi dùng hai tay nhẹ nhàng kéo từng đốt lá cho rời ra. Sau khi đã kéo hết các đốt lá chúng lại cặm cụi cắm các đốt lá vừa kéo ra vào với nhau. Đứa nào nối được nhiều đốt lá lại với nhau thì sẽ thắng.

Vào mùa đông chúng thường nhặt các quả phi lao khô cho vào các cóng bơ sữa đã đục thủng một miếng bên cạnh. Trên mép cóng đục hai lỗ nhỏ đối diện nhau để luồn dây. Khi đã cho các quả phi lao khô vào chúng dùng giấy đốt cửa phía dưới đáy cóng. Quả phi lao khô bắt lửa chúng cầm đầu dây quay tròn cho khói tản ra và cho quả phi lao cháy thành lửa. Khi các cóng của mọi đứa đã cháy đều chúng túm tít lại ngồi vây xung quanh tránh rét. Lá và quả phi lao là nguồn để lũ trẻ trâu bày các trò chơi các mùa. Thời gian cũng trôi theo những trò chơi để quên cái đói cái rét.

Trên mặt đê mọc giữa hai hàng phi lao và bên sườn cỏ gừng mọc dày làm nên thảm cỏ mượt mà. Đặt chân lên mặt đê một cảm giác mát lạnh và êm ái yên lành trên mỗi bước chân. Tối tối đám trẻ con trong làng vẫn thường ôm chiếu ra ngủ cùng mấy anh thanh niên trên mặt đê vào những đêm tháng mùa hè. Vào những đêm như thế mặt đê rầm rầm rì rì tiếng nói chuyện huỳnh huỵch tiếng bước chân chạy đuổi nhau của lũ trẻ chơi trò trốn tìm tiếng cãi nhau của mấy đứa tranh phần cỏ trải chiếu. Trên mặt cống nơi người ta lấy nước vào đồng theo con ngòi nhỏ lũ con gái thì thụp cho nhau củ khoai lang luộc.

Tách riêng ra như là một thế giới khác thế giới của thiên nhiên tiếng lá phi lao lao xao tiếng bày dế ri ri bên sườn đê.  Bây giờ rặng phi lao không còn. Mặt đê vồng lên võng xuống xẻ rãnh. Trên các vết bánh xe công nông nước đọng lại thành từng vũng nhỏ. Lẩn trong đám nước đọng của vũng những con bọ gậy bơi cung quăng bắn mình loằng ngoằng. Một vài vũng nơi có phân trâu bò những búi giun đất nhỏ đỏ thẫm cuốn vào nhau như cuộn chỉ rối. Sườn đê cũng không còn những thảm cỏ gừng xanh mướt nằm ép xuống mặt đất. Thay vào đó là những tấm bê tông vuông vuông có những cái lỗ tròn tròn xếp đặt theo đúng thứ tự quy luật ghép lại với nhau. Nhờ có công nghiệp hoá con đê ngày xưa đã được kè hoá xi măng.

Dưới sông một vài đám bèo sen nở hoa tim tím. Những cánh hoa mỏng mảnh đung đưa theo gió. Thỉnh thoảng vài ba con nhái thấy động nhảy vọt ra khỏi búi cỏ xuống nước. Chúng ngóc đầu giương đôi mắt nhìn ngơ ngác bàn chân đạp đạp nhè nhẹ trong màu nước gạch cua. Để mặc hoa cỏ may bám đầy gấu quần Măng cứ bước chầm chập từng bước một. Những bước chân về một thời quá vãng.

Từ trong làng tiếng chú gà trống choai tập gáy vẫn thi thoảng lại cất lên tè té te vọng sang. Tiếng gáy lọt qua rặng tre gai bao bọc lấy làng vọng qua sông lọt thỏm vào không gian rộng lớn của cánh đồng. Tiếng gáy không đủ sức vượt qua khoảng không gian rộng lớn đó nó loãng ra rồi lặn sâu vào trong gió. Những cơn gió cứ vô tư dềnh dàng đùa nghịch trên những ngọn cỏ bông lúa hay cánh hoa sen lập lờ dập dềnh trên sóng rồi kéo tiếng gáy cùng nhau bay vút lên trên cao. Tiếng gáy khi đó chỉ còn nghe âm tè tè ngắt quãng đơn điệu.

Thả bộ một mình trên đê Măng bỗng nhận ra rằng bao nhiêu năm qua Măng chưa hề có một nơi để về. Gió se se hây hẩy lạnh. Măng chép miệng tặc lưỡi đưa tay kéo khoá. Vừa đi Măng vừa vẽ rồng vẽ phượng trên mặt đê. Xong Măng đưa tay vuốt vuốt cho đám tóc bị gió làm cho rủ xuống mặt ượt về sau.    

 Đồng chiều muộn thoang thoảng mùi lúa mùi bùn mùi váng phèn nước chua và cả mùi phân trâu bò hoang hoải.

Bóng Măng đổ dài xuống sườn đê. Nửa bóng người phần trên nằm vật vờ trên mặt sóng. Măng bước đi nửa phần bóng cũng lập lờ trôi theo…

More...