TRÒ CHƠI

By

TRÒ CHƠI  

Lũ trẻ ùa vào cuộc chơi
Mặt mũi tóc tai áo quần lem luốc
Đứa làm giặc rúc bờ rúc bụi
Đứa quân ta hổn hển chạy tìm
 

Ngồi bệt đánh lê túm tụm  chơi chuyền
Ngấp nghến mắt nhìn theo bóng
Bàn tay bắt chuyền nhón que lóng ngóng
Đánh mất lượt chơi
 

Trò chơi tuổi thơ một kiếp con người
Dung dăng chơi khăng đánh đáo
Tập tầm vông
Ập oà rồng rắn
 

Giật mình tóc ủ màu sương
Tưởng trốn trò chơi một thuở
Năm tháng tuổi thơ bỡ ngỡ
Đi theo suốt cả cuộc đời.
                   

More...

NỖI OAN THỊ MẦU

By

NỖI OAN THỊ MẦU 

Họ nói rằng em lẳng lơ
Thích ăn oản lại còn ghẹo tiểu
Lúng liếng cái đuôi con mắt
Hơ hớ tuổi xanh thèm táo sân đình 

Áo tứ thân ai khéo vẽ nên tình
Vạt áo xẻ dài mỏng manh khuy bấm
Hương táo lùa thơm dải yếm
Giọt mõ rơi vị chua ngấm người thèm 

Áo thì mỏng tuổi em mong manh
Con mắt biết yêu nên nhìn lúng liếng
Niềm vui nỗi buồn sao mình em chịu
Em niệm nam mô khấn cả cho người 

Em lẳng lơ vì  áo đấy thôi
Em lúng liếng vì tuổi em khao khát
Cũng táo người đời em sao lại chát
Oan ức cho em lắm lắm Thị Mầu.

More...

HẠT PHÙ SA

By

                         HẠT PHÙ SA  


Em vụm tay vục xuống lòng sông
Tình cờ vốc lên hạt phù sa thơ dại
Hạt phù sa lẫn vào bờ bãi
Hạt phù sa khao khát đầu nguồn 


Từ những cơn mưa sầm sập nghiêng rừng
Những trận gió xé nát sườn bờ núi
Mạch đất nóng tách thành con suối
Nuôi khát khao cháy đến tận cùng


Những dòng sông chảy mãi không ngừng
Đưa hạt phù sa chờm qua gờ đá
Cuồn cuộn chảy hoà vào mùa lũ
Miệt mài qua những mùa trăng 


Cứ miệt mài qua mỗi mùa trăng
Cứ khao khát qua mỗi mùa nước nổi
Cứ hy vọng hoà vào dòng chảy
Hạt phù sa thơ dại một thời 


Lặng lẽ đi về phía cuối trời
Chắt hết mình cho bờ dâu bãi mía
Dẫu thác ghềnh ầm ầm cơn lũ
Khi xênh xang đồng rộng sông dài 


Cứ chảy hoài chảy mãi không thôi
Nơi biển cả sẽ là bến đậu
Sóng dập gió vùi làm thành cồn nổi
Hạt phù sa vẫn đầy đặn tinh khôi. 

More...

TÔI VÀ BÂY GIỜ VÀ KÝ ỨC ĐỜI LÍNH

By

TÔI VÀ BÂY GIỜ VÀ
KÝ ỨC ĐỜI LÍNH
                                                                                                    
 


Nếu ai đó cho rằng thơ là tiếng lòng là tiếng nói tri âm của thời gian quá khứ là ký ức của những ngày đã qua thì điều đó đã đúng với những gì Nguyễn Xuân Thái viết trong tập thơ Tôi và bây giờ (*) của mình. Lao động văn thơ thường là lao động quá khứ. Những cái thoáng qua những cái đọng lại những cái đi mãi vẫn luôn là niềm day dứt của thi ca của người cầm bút làm thơ. Đó chính là tiếng lòng còn thổn thức khôn nguôi. Hãy lắng nghe tiếng lòng của nhà thơ thao thức về ký ức một thời áo lính:
"Cỏ xuân xanh vẫn vậy thôi
Tôi ngồi uống với mây trời phía xa…"
                                              (Heo may)
"Mây trời phía xa"
ấy chính là những đêm tuần tra những ngày truy theo dấu chân biệt kích năm nào của người lính Nguyễn Xuân Thái nó vẫn là niềm trăn trở là những nỗi nhớ về đồng đội. Trong cuộc sống thường nhật dẫu còn những nhọc nhằn vất vả nhưng Nguyễn Xuân Thái vẫn thao thức nhớ về ánh lửa rừng hôm nào. Và cũng chính bên bếp lửa rừng ấy Nguyễn Xuân Thái lại nhớ về bếp lửa rừng một thủa "Ngày củ sắn bẻ đôi vừa thổi vừa ăn" trên đường truy tìm biệt kích. Cái ngày "Hương sắn bay đi kỷ niệm còn đọng lại" đã có những khuôn mặt bạn bè đồng đội vắng sau trận đánh. Chỉ hương sắn thôi chút hương của rừng của núi của đất đai cũng gợi cho anh một nỗi nhớ diết da về những người đồng đội. Nếu ai đã từng phải bế đồng đội hy sinh sau mỗi trận đánh thì mới hiểu cái đau cái nhớ thương cái mất mát lớn biết nhường nào. Trong cuộc sống khi con người gắn bó với nhau trong vất vả gian nan gắn bó với nhau trong hoạn nạn gian khó thì khi phải chứng kiến những mất mát ấy nỗi day dứt niềm trăn trở luôn là điều mà con người hướng đến. Tôi tin rằng đó chính là nỗi đau hơn mọi nỗi đau là nỗi buồn hơn mọi nỗi buồn.
Với Nguyễn Xuân Thái cuộc đời có gần bốn mươi năm quân ngũ và cũng bằng ấy thời gian gắn bó với dải biên cương nơi mà đêm đêm đi trong ánh pháo sáng ngày ngày sống trong địa đạo một thời lửa đạn Vĩnh Linh bước chân tuần tra vẹt mòn đá núi áo đẫm sương rừng. Cũng chính từ những năm tháng ấy năm tháng của bao khó khăn gian khổ đã cho anh những cảm nhận sâu sắc về lẽ sống của người lính biên phòng như thế.
Người đời vẫn thường nói rằng thức lâu mới biết đêm dài nhưng với những người cầm bút chỉ một chớp nhoáng một thoáng qua thôi cũng đủ để mang dấu ấn một đời đủ để hiểu về đêm dài. Đêm dài của Nguyễn Xuân Thái là nỗi nhớ về đồng đội những người chia lửa một thời những đêm phục kích trăn trườn đường tuần tra vắt đuổi những con đường sương giá phủ mờ lối đi. Đó là những đêm:
"…Trận đánh nào nghiêng ngả cây rừng
     
Đỉnh hai ngàn đá khắc ghi chiến tích
     
Đất xoá sổ những tên biệt kích…"
                                    (Bếp lửa rừng)
Trong cuộc sống khi con người nói đến điều gì đó cũng thường chỉ ra một cách cụ thể. Trong cái thời cơ chế thị trường thì cái cụ thể ấy nó còn được thể hiện một cách cụ thể đến mức mà ta có thể nắm được cầm được sự cụ thể đến mức không thể cụ thể hơn. Với người lính biên phòng với người lính thơ Nguyễn Xuân Thái thì cái cụ thể ấy là những điều mà người thường khó có thể cảm nhận được. Tổ quốc trong họ là sự vời vợi của
"Những nét gạch nối trên bản đồ
Từng tấc đất gốc cây trên thực địa
Và đường thẳng đứng không gian".
Cũng chính vì cái vời vợi ấy mà để nhận ra đất đai Tổ quốc họ phải nhận "bằng tim" "bằng linh cảm thiêng liêng" "bằng dòng chảy thời gian dồn tụ" hay nói cách khác chính là bằng cả chiều dài lịch sử của dân tộc. Chiều dài của những tháng năm cha ông gìn giữ để bảo vệ và dựng xây.
Rất nhiều người có quan niệm thời gian sẽ là liều thuốc làm lành những nỗi đau làm dịu vợi nỗi buồn xoa dịu những mất mát của cuộc đời. Thời gian trong thơ Nguyễn Xuân Thái chính là nỗi lòng mình. Thời gian ở đây hư mà thực ảo đấy mà thật đấy gần đấy mà xa đấy thời gian ấy để nhà thơ "cắm con sào ký ức xuống thời gian" cắm vào lòng người những kỷ niệm của thời gian của những gì đã trải nghiệm và những điều mà con người tưởng có thể vùi đi những đớn đau cuộc đời đã trải. Đó chính là những đau đớn không thốt thành lời là những trăn trở dằn vặt mà Nguyễn Xuân Thái canh cánh trong lòng. Nỗi đau của sự chiêm nghiệm rút thành thơ.
"…Mười năm vùi xa xót trong tim
    
Giờ gặp lại hoa díu dan đầy tóc
    
Biết không thể tìm lại gì đã mất…"
                                        (Mùa hoa sấu này)
Hoặc:
"
…Hai mươi năm giấu ký ức nơi em
    
Giờ Vũng Tàu trả về tôi sấm chớp
    
Cơn mưa xối hạt đau xuống tóc
    
Giọt trăng buồn tưới buốt đôi môi!"
                                    (Ký ức Vũng Tàu)
Đây phải chăng chính là tiếng lòng của người thơ của nỗi đau mà thời gian đã tưởng như khoả lấp trong ký ức. Năm tháng qua đi ta đã tưởng chừng như những nỗi đau kia đã được thời gian làm cho quên lãng nhưng thực ra là không nó chỉ làm cho nỗi đau thêm đau nỗi nhớ thêm đầy nỗi buồn thêm nặng vì thời gian qua đi để chỉ còn lại "một mình gom nhặt".
Ấn tượng và để lại sâu đậm nhất trong "Tôi và bây giờ" có lẽ là hình ảnh người lính biên phòng. Gần 40 năm cầm súng và cầm bút cũng bằng ấy năm Nguyễn Xuân Thái là người lính biên phòng. Nếu ai đó có nói trong các nhà thơ cầm bút viết về biên phòng không ai có thể hiểu biên phòng hơn Nguyễn Xuân Thái chắc không sai. Nếu không là người lính biên phòng liệu có ai biết được con đường người lính biên phòng ngày ngày đi qua như thế này:
"…Lối mòn lọt bước chân
    
Vừa vượt suối gặp thác
    
Bên đường nhung nhúc sên…"
Rồi:
"…Dốc Đá Bằng ngựa ngã
             
Dốc Cây Dẻ chênh vênh
             
Một bên vách đá dựng
             
Một bên vực hút nhìn…"
                    (Đường vào Na Nhạp)
Bằng lối viết tả thực Nguyễn Xuân Thái đưa người đọc cảm nhận được một cách đầy đủ nhất về biên giới. Giữa những nét hùng vĩ của núi rừng những nẻo đường biên cương cũng còn rất nguyên sơ và ẩn chứa biết bao nguy hiểm. Nguyên sơ là thế nguy hiểm là thế gian nan là thế nhưng người lính vẫn vô tư vẫn dành tất cả cuộc đời mình cho dải đất biên cương mà không hề so đo tính toán. Sự hy sinh ấy cứ như vốn có sẵn trong trái tim của mỗi người lính.
"…Bạn như giọt nắng ban mai
     
Mà thành cổ tích thành cây giữa đời…"
                                                  (Heo may)
Thơ Nguyễn Xuân Thái không ồn ào không "làm mình làm mẩy" như bão như gió của một số người viết trẻ không làm dáng theo kiểu "ưa lối trừu tượng" không "sồn sồn ào ào" như những người đang sung mãn. Thơ Nguyễn Xuân Thái cứ lặng lẽ âm thầm như dòng sông kia một đời bồi đắp phù sa một đời nhận về mình bên lở. Sự lắng lại qua những gian truân của người lính những vất vả của con người đã thấm vào trong hồn thơ của anh. Đấy phải là những chiêm nghiệm qua bao đêm dài mới có được. Những chiêm nghiệm ấy được rút ra từ thủa tóc xanh cho đến khi:
"Bây giờ tóc đã heo may
Khát khao đã cạn hao gầy bước đi
Bây giờ cất giấu nghĩ suy
Quá khứ xoáy cuộn mỗi khi gặp buồn"
.
Một ký ức thật dài và một thời gian thật dài cho một đời người.
Cái hay cũng từ đấy cái sâu sắc cũng từ đấy và cái tình cũng là đấy. Mặc dù Nguyễn Xuân Thái đặt tên cho tập thơ của anh là Tôi và bây giờ nhưng cái tôi trong quá khứ tôi trong bây giờ nghĩa là tôi xa xưa và tôi hiện tại luôn bên nhau tạo nên tiếng nói chung sự đồng điệu tiếng nói của thơ tiếng nói của niềm trăn trở về quá khứ nơi biên giới xa xôi của Tổ quốc. Những trăn trở và nỗi nhớ về quá khứ đằm trong ký ức được nhà thơ gửi gắm cụ thể hoá vào thơ.                    
"…Cỏ xuân xanh mãi. Vậy thôi
                    
Sau lưng tôi vẫn góc trời heo may."
                                                 (Heo may)
"Góc trời heo may"
ấy có đồng đội của anh một góc trời nơi biên giới xa xôi của Tổ quốc. Có thể nói Tôi và bây giờ là tập thơ nói hộ người lính và của người lính quân hàm xanh. Và đó cũng là ký ức của cả đời lính biên phòng - Đại tá nhà thơ Nguyễn Xuân Thái. 
 
.....................................
(*) Tôi và bây giờ - Thơ Nguyễn Xuân Thái - Nhà xuất bản Công an nhân dân.
  
 

More...

CÓ NHỮNG DÒNG SÔNG

By

          CÓ NHỮNG DÒNG SÔNG   


Tôi có dòng sông tuổi thơ
Sáng sáng theo cha chài lưới
Ngày con nước ròng mùa con nước nổi
Mẹ gieo hạt nắng đồng làng  


Tôi có dòng sông tuổi học trò
Triền đê vắng bắt chuồn đuổi buớm
Bông cúc dại gài hờ bím tóc
Rặng tre xanh đổ bóng bờ chiều  


Tôi có dòng sông tình yêu
Nơi cuối bãi mái chèo khua nắng
Nỗi nhớ giấu sau vành nón trắng
Giá rét ngày đông em cấy xuống đồng  


Tôi còn có dòng sông lặng thầm
Thao thiết chảy suốt miền biên giới
Vách đứng đá tai mèo thung sâu thác dội
Mé rừng khuya sương lạnh ấm hơi người  


Những dòng sông chảy suốt cuộc đời
Bóng mẹ dáng cha khuất vào bên lở
Lặng lẽ lòng sâu thầm thì sóng vỗ
Hạt phù sa đắp đổi phía tôi đầy. 

More...

CÁNH ĐỒNG QUÊ

By

                                  CÁNH ĐỒNG QUÊ                             


Cánh đồng mẹ sinh tôi
                             
Lời ru ấp gốc rạ
                             
Tháng tư chạy mưa đầu mùa
                             
Vũng trâu đằm trở dạ
                             
Cây lúa uốn câu mồ hôi ngậm sữa
                             
Cha mang cật nứa cắt nhau
                                                 


Tháng năm đồng sâu
                             
Chớp giật đằng tây nhay nháy
                             
Tháng mười gà gáy
                             
Le te quang gánh chợ đông
                             
Lưng lúa cong cong dáng mẹ còng còng
                             
Cha mang nắng mưa vào hội
                             
Chị mặc áo nâu 
                             
Bắp chân ngập bùn ruộng ngấu
                             
Tôi lớn trên lưng ngày
                             
Nhúm thóc rang vàng nhấm nhắt
 


Thời gian tia chớp vọt cày
Mẹ ủ lời ru vào đất
Cha mang hội giấu đồng làng
Chị đem giao duyên vào phố
Còn tôi ngơ ngác triền đê
Nắng buồn rắc mặt ruộng quê.

More...

HỎNG

By

                                        HỎNG


Sáng đi làm thấy trời hây hẩy gió heo may. Chút se se lạnh để đủ cho nỗi nhớ về một ngày xa nhớ và luyến tiếc cuối thu. Chiều tạt qua chợ mua mấy thứ về định bụng làm nồi lẩu ngồi với bạn bè cho dịu vợi sự luyến tiếc thu vàng. Cất xe le te sang nhà Lý Mông thì thấy lão ngồi thu lu hai chân trên chiếc ghế sa lông nan bằng gỗ lim mắt lim dim. Lão đánh độc chiếc áo may ô ba lỗ nhờ nhờ mầu nước vo gạo và chiếc quần đùi. Chiếc quần đùi bộ đội rộng thùng thình lão vén lên hở tô hô lộ hết ra ngoài.
Thấy Lý Toét tôi vào lão đưa tay với lấy cái điếu cày kẹp vào giữa hai chân vỗ vỗ bàn tay lên miệng điếu. Cái mặt lão đăm chiêu nhăn nhúm trông chả khác gì cái lò so giảm xóc xe máy.
- Lão ngồi xuống đây. Tôi đang có việc muốn hỏi lão.
Đúng là ngậm miệng như cóc rồi cũng có lúc phải lên tiếng. Biết lão đang có tâm sự Lý Toét tôi rón rén đến ngồi chỗ lão chỉ.
- Có chuyện gì mà mặt lão ỉu như bánh đa ngấm nước thế? Chả bù cho mọi hôm. Toang toác toang toác 
Tôi nhỏ nhẹ lên tiếng nói tếu táo cho lão vui. Ai ngờ lão tợn mắt lên chứ không ti hí lim dim như lúc nãy nữa.
- Đang nẫu cả ruột đây. Chẳng hiểu nó ra thế nào nữa.
- Cái gì làm lão nẫu ruột mới được chứ? Có ai mang cái bụng thối của lão luộc uống rượu đâu mà nẫu với chả nẫu. Này. Nói cho lão biết nhá. Trái cây chín nẫu người ta còn lấy được hạt để trồng cùng lắm tống nó vào chuồng lợn để làm phân. Lòng người mà nẫu thì ngửi cũng chẳng xong đâu.
- Vẫn biết thế. Rưng mà buồn quá - Giọng lão Lý Mông chảy ra như nước - Có nhiều người học hành tử tế sống thẳng thắn trung thực khiêm tốn giản dị. Không lằng nhằng vợ nợ con kia. Với trên thì đúng mực với dưới thì chan hoà. Có nghĩa là xét về cả phẩm chất và năng lực thì tốt. Ấy thế mà cứ lẹt bẹt lẹt bẹt làm cái anh trợ lý lằng nhằng. Không sao tiến lên được.
- Đúng là cái lão cười thuê khóc mướn. Tưởng gì. Mà cái đấy đâu phải việc lão lo. Gái goá ngó chuyện triều đình. Vớ vẩn. Lo cho con mụ đốp nó có đủ tiền tiêu là được. Tối tối nó cười phe phé khi quặp lấy lão chả sướng lắm rồi sao. 
Nghe Lý Toét tôi nói có thế lão đứng phắt ngay dậy. Tay giơ cái điếu cày ngang sườn. Một lát lão từ từ hạ xuống. Chỉ mặt Lý Toét tôi lão gậm gừ.
- Sống như thế mà cũng sống được. Chỉ biết có mỗi mình mình. Loại người như lão sao không chết đi cho trái đất nó rộng chỗ cho thóc khỏi cao gạo khỏi kém.
Biết là lão giận Lý Toét tôi mới nhẹ nhàng. Khi lão này nóng cứ nói năng nhẹ nhàng như con mèo đi trên thảm nhung là lão lại dịu ngay.
- Thì để lão sống uống rượu với ai? Gớm. Bố con mẹ đốp hôm nay nóng thế.
- Nhưng mà nó hậm hực lắm. Cứ thế này chả bao giờ phát triển được.
- Thế lão nghe ta hỏi đây. Tay này thấy sai là nói. Là kẻ không hoạt ngôn. Là thằng không biết giấu giếm khuyết điểm. Là tên tiền bạc không thể mua chuộc uy quyền không chịu khuất phục. Có đúng thế không?
- Đúng.
- Thế là hỏng. Hỏng nặng. Chỉ biết thẳng mà không biết queo chỉ biết chữ mà chưa hiểu hết nghĩa. Học lắm nhưng kém hành lý thuyết suông. Lý thuyết là chất xám còn cây đời mãi mãi xanh tươi. Hỏng là phải. Trợ lý lẹt bẹt là xứng đáng.
- Rưng mà…
- Rưng mà cái gì. Ta nói cho lão hay. Con chạch muốn sống phải biết chui xuống bùn con chim muốn sống thấy động phải bay con cá thấy mồi chớ có đớp vội con người muốn thành đạt phải biết thích nghi thời cuộc. Tính trội của cái anh có học là ngang. Tính trội của người làm lãnh đạo là nhịn. Ba anh em nhà Lưu Bị anh hùng một khoảnh mà còn phải dăm lần bảy lượt lượt đội mưa gió tuyết lạnh cắn rơm cắn cỏ nhịn nhục đến thế mới mong có được Gia Cát Khổng Minh. Không chịu được nhục làm sao lên được. Hỏng.
- Nhưng mà học hành bằng cấp là để đánh giá trình độ năng lực cơ mà.
Đến nước này Lý Toét tôi cũng phải phát cáu. Nói như đục vào tai mà vẫn không chịu hiểu.
- Nhiều bằng nhưng thằng này nó còn thiếu một bằng. Rõ chửa?
Lý Mông gãi gãi tai ra chiều ngẫm ngợi. Chắc bí quá biết Lý Toét tôi đang cáu lão rón rén hỏi.
- Thế theo lão nó thiếu cái bằng gì?
Đúng là đồ củ chuối. Lão cũng học hành nhiều đấy chứ mà sao chậm hiểu thế. Cái gì cũng toác toàng toạc ra được đâu. Nhưng mà lão hỏi không nói thì lão còn hỏi đến tận củ tỷ. Vạ thêm bực mình.
- Cái bằng lòng. Rõ chửa.
Lý Mông nghe thế hai chân đang thả buông thu lên trên mặt ghế. Lão mồi thuốc châm lửa méo miệng chun mồm rít một hơi rõ dài. Tiếng rít lục sục lục sục nghe như nồi nước sôi.
Trông cái mặt lão nghệt ra đến tội.

More...

VỚI TRƯƠNG CHI

By

VỚI TR­ƯƠNG CHI                         


Sóng vẫn ru và gió vẫn reo
Đêm đã sâu sau lầu son gác tía
Hội kinh thành trò đang xôm nghiêng ngả
Còn ai mà hát gọi người 

Câu xẩm xoan cuộc đời
Vư­ơng vãi không ngư­ời nhặt
Lời ả đào thắt lư­ng xanh che mặt
Bộn bề mũ áo xiêm y 

Sao không giấu nét xấu hỡi Trư­ơng Chi
Cứ phơi ra trời đất
Dẫu biết rằng ngọc trong lời hát
Còn hơn khuyết tật tâm hồn 

Kẻ lén nghe nấp mặt sau rèm
Mũ chuồn vênh vang
Sông có khúc khi trong khi đục
Sống tận cùng câu hát ngư­ời yêu 

Khuya rồi Trương Chi về đâu
Để câu hát lại đời
Khúc thuyền quyên khoan nhặt
Mênh mang dài lâu.  

More...

CÁI LÝ CỦA ĐỜI

By

CÁI LÝ CỦA ĐỜI 


    
     Chiều nay chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mà "sư tử" nhà tôi lại vào bờ lốc để xem mới hay chứ. Nhân đây cũng xin chớ ai nói tôi gọi "ấy" là "sư tử" kẻo tôi mất miếng tai lại thành ông Van Gốc cũng nên. Lúc đó lại nổi tiếng hơn cả …bèo cái mà người dân quê tôi hay lấy về nấu cám cho lợn cũng chả biết chừng.
    
     Xem thì cứ xem ngại gì. Mình có khuất tất gì đâu. Bụng bảo dạ thế nhưng trong lòng cũng lo ngay ngáy. Biết đâu đấy vô tình ai đó viết này viết nọ coi như gặp hạn dài dài.Xem xong "sư tử ở vườn bách thú" mới nhỏ nhẹ:
    
     - Em cứ tưởng các anh mang danh là nhà văn nhà thơ được mọi người coi trọng vì là kẻ quân tử. Ấy thế mà cũng có nhiều vấn đề nhỉ. Thì ra cũng có nhiều người không dũng cảm như chúng em thường mong đợi.
    
     Nghe nói xóc mà chẳng lẽ lại cự nự. Phụ nữ người ta thế. Đàn ông nông nổi giếng thơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu. Thôi mặc. Tốt nhất là cứ sống vô tư cho nó trẻ…giai. Tất nhiên là kẻ cả nghĩ nên tôi cũng phải xem lại mình như thế nào. Ra đường thiên hạ mình ta về nhà vợ gọi thưa bà con đây. Vợ nói trong nhà có gì phải xấu hổ. Sợ vợ cũng là phẩm chất đáng quý của người đàn ông lắm chứ. Không biết sợ là coi như mất toi sự sống nửa trái đất là cái chắc.
    
     Đang lần lại các trang viết xem có vấn đề gì mà "sư tử" nói xóc vậy thì lão Lý Mông đã le te vào. Vừa đặt mông xuống ghế lão đã quang quác quang quác.

    
- Này cho hỏi thật nhé. Các lão viết cái gì mà Lý Mông ta không hiểu.
    
     Đúng là ma xó. Chả có cái gì qua được mắt lão. Đi trên phố trót uống nhiều bia đứng trộm vào gốc cây bên đường tối về lão cũng nói. Mà cái giọng lão nói xỉ vả nghe đến khó chịu.
    
     - Thì nó là cái gì cứ nói toạc móng heo treo móng lợn lên. Úp úp mở mở khó chịu quá.

     - Còn cái gì nữa. Các bài mà cánh báo chí văn chương nhà ông ấy. Viết cứ chung chung. Lý Mông ta có học bằng cấp thật hẳn hoi chứ không học giả lấy bằng thật đâu mà còn chả hiểu.
    
     - Cái gì không hiểu?
    
     - Nhiều lắm. Có dẫn chứng cả ngày cũng không hết. Tỷ dụ như cái vụ sập cầu Cần Thơ ấy. Ai chịu trách nhiệm chính? Giải quyết như thế nào? Cái vụ nâng học phí của Bộ Giáo dục đào tạo đấy. Ai là người vẽ ra đề án ấy? Có khảo sát trắc nghiệm không hay là nghĩ ra là làm luôn? Nếu dư luận không lên tiếng chắc là xong béng rồi. Con mọc răng còn nói năng gì nữa. Rồi cái chuyện đề án một một hai. Biết là không khả thi nhưng vẫn quyết cho làm. Tiền của quỹ hỗ trợ nào đi nữa thì vẫn là dân phải trả nợ chứ. Người ta cho không đâu? Lão giải thích thế nào đây? Tại sao không huỵch toẹt nó ra?
    
     Biết là lão Lý Mông nói cũng có lý…mông nhưng chưa trúng chưa đúng. Nhìn phải toàn diện chứ. Cứ như lão thì rối tinh canh hẹ. Giải thích lý thuyết nọ lý thuyết kia chắc lão không nghe. Lão còn lạ gì các lý thuyết nữa. Vạ phí nhời. Nhưng dẫu sao cũng phải thừa nhận là lão nói có nhiều ý đúng. Trong thời buổi quản lý xã hội phải dựa vào pháp luật chứ không chỉ là mệnh lệnh hay đạo đức như trước nữa thì mọi cái phải chịu sự chế tài của luật pháp. Nhập nhèm càng khó giải quyết và càng rối. Song hình như lão quên câu này: Trung ngôn nghịch nhĩ. Nói thẳng người được nghe lại tức khí bẻ queo đi thì càng hỏng. Nói thẳng mà để hỏng việc thà không nói. Nhưng mà phải nói nên mới phải lòng vòng như thế. Nói gần nói xa chẳng qua nói thật là thế. Lão không làm báo nên không thông cảm cho cánh báo giới.
    
     - Thế lão có thích nghe nói thật về lão không?
   
     - Thì lão cứ nói thật ra xem nào. Lý Mông ta có gì khuất tất mà phải sợ.
    
     - Lão là đại tá …điền thì ai nhờ vả gì được mà khuất tất. Mảnh vườn nhà lão có chăng chỉ được hưởng lộc mấy con cẩu của nhà hàng xóm sang thả chất thải là cùng.
    
     - Đây cũng chẳng thèm. Đuổi đi lại mất lòng hàng xóm. Báu bở gì cái của thải ra đó. Chỉ vạ ra vườn cứ phải nhìn xuống dưới chân.
    
     - Lão đừng giận ta nhé. Lão mặc quần ống què áo thả vạt hai cái túi to như bị bắt gà trông chả khác gì miếng giẻ rách.
    
     Nghe chưa hết câu Lý Mông đã nhổm người dậy mắt nhìn thô lố vằn những tia máu.
    
     - Ông bảo ai là giẻ rách. Ông có giỏi nói lại cho tôi nghe.
    
     - Đấy. Mới nói có độc mình lão mà đã thế. Đằng này dây mơ rễ má lằng nhằng cả lô cả lốc. Nếu cứ nói thẳng liệu có ổn không?
    
     - Rưng mà nó đúng.
    
     - Thôi. Xin lão. Đúng thì có đúng bạn đọc sướng dư luận ủng hộ nhưng bạn đọc là ai dư luận là ai. Khi bị lôi ra giải trình có giúp được không hay để mặc mấy tay nhà báo chịu trận. Mà động cái là phạt. Tiền hết. Cái gì cũng quy ra "thóc". Lão có dám gánh hộ không hay là giũ tay áo làm con …chuồn chuồn. Đánh kế thứ ba mươi sáu.
   
    
     Lão Lý Mông nghe đến đây hình như lão hiểu. Bậm bịch đứng lên lão phẩy phẩy tay. Vừa đi lão vừa nói lủng bủng: Đúng là cái lý của đời. Chịu. Chịu thật. Kiểu gì cũng nói được.
    
     "Sư tử vườn bách thảo" cũng không nói gì. Vào bếp lôi mấy cái xoong bẩn ra đánh loẹt xoẹt loẹt xoẹt. Chả hiểu sao vô tình hay hữu ý mụ làm nhọ nồi bôi lem nhem đầy mặt. Có một vết nhọ nồi ngoạc hai bên miệng. Trông đúng là khuôn mặt của "sư tử" bị nhốt chuồng. Trông mụ lúc này đáng yêu thế.
    
     - Vớ vẩn. Đang đánh nồi. Có gì. Tối.
    
     Mụ gạt tay ra nhấm nhẳn nhưng ánh mắt cứ long lanh long lanh như sương. 

More...

XEM TUYẾT NỘI

By

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Hoà

XEM TUYẾT NỘI

   Đầu tháng 3.2005 Tạp chí Văn nghệ Quân đội mở trại sáng tác ở Đại Lải phục vụ cuộc thi truyện ngắn 2 năm (2005- 2006). Về dự trại viết lần này chủ yếu là các cây viết quen thuộc đã có tác phẩm được sử dụng trên tạp chí và tham dự cuộc thi. Do điều kiện phòng ở có giới hạn nên trại viết phải tổ chức làm hai đợt.
Ngày khai mạc nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà lúc này vẫn đang công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội chưa chuyển về báo Nhân dân do phải đi công tác trên Tam Đảo nên không về dự kịp. Ba ngày sau khi các trại viên đã vãn hồi những chuyện lâu ngày xa nhau nay gặp gỡ trại viết đã nhúc nhắc chuyển động sáng tác thì Nguyễn Hoà mới lóc cóc tay xách nách mang đi xe máy về.
Nhà văn Hoà Vang người nổi tiếng xởi lởi và thích bông phèng với bạn viết sau những giờ mọi người đánh vật với từng con chữ hồ hởi từ trong phòng ra đón tếu táo nói đùa.
-Anh em ai cũng đã có cả đống trang viết mà sao nhà phê bình nay mới đến thế. Chắc lại quấn quýt mẹ cháu quá?
Vốn đã biết tính nhau lại hay đùa Nguyễn Hoà mặt tỉnh khô bảo.
- Em cùng mấy anh em đi Tam Đảo xem tuyết nội.
Nghe Nguyễn Hoà trả lời không mấy ai hiểu được ngay người nọ nhìn người kia có ý chờ lời giải thích.
Khi mọi người đã vào phòng hoan hỷ chung vui điếu thuốc chén nước cùng người đi xa mới đến Nguyễn Hoà mới thủng thỉnh.
- Thiên hạ phải mất tiền triệu để đi du lịch Châu Âu Châu Mỹ xem tuyết rơi như thế nào. Em con nhà nghèo không có tiền đi thì em lên Tam Đảo xem tuyết nội rơi có khác tuyết ngoại không.
Thì ra thế. Hai tháng trước nghe trên Sa Pa có tuyết một số người ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng trung du có tiền rủ nhau thuê xe lên xem tuyết rơi. Khi về nghe họ kể chuyện tuyết rơi ở Sa Pa mà như truyện kiếm hiệp truyền kỳ. Không chịu kém cạnh một vài người có tiền liền mua vé đi du lịch các nước cho ...bõ công đi xem.
Vốn là nhà giáo trong quân đội rất ghét thói hợm hĩnh kiểu trọc phú làm sang mấy tay mới phất giàu khoe mẽ nên Nguyễn Hoà có ý tuyết thì ở đâu chả là tuyết. Có tiền đi du lịch thì cứ đi hà cớ gì phải này nọ cho ra vẻ ta đây.
Câu chuyện tưởng thế ai ngờ nhà văn Hoà Vang nghe xong sướng quá xin luôn chi tiết này. Và thế là trong truyện ngắn Hạt bụi người bay ngược đã ra đời. Chi tiết nhân vật xem tuyết nội được lấy nguyên mẫu từ người kể chuyện. Đây cũng chính là chi tiết mà bạn đọc luôn ám ảnh trong tác phẩm.

More...