SÓNG VẪN VẨN VƠ TRÔI (tiếp)

3
          Nhìn theo bóng thuyền câu của lão Kiếm cho đến khi khuất hẳn vào khúc ngoặt bà Tèo chui vào nhà thuyền. Tự nhiên bà chán chường không muốn làm gì cả. Bà với tay lấy chiếc ấm tích rót nước. Bà rót đến khi nước tràn ra sạp thuyền mới biết. Giật mình bà đặt vội chiếc tích xuống rồi vơ vội chiếc áo rách mắc hờ bên mạn lau. Xong bà ngồi thừ ra. Những giọt nước mắt cứ lăn dài trên má.         
          Bà không thể ngờ rằng cuộc đời xô đẩy bà từ một cô gái trên bờ gắn bó với bờ xôi ruộng mật lại trở thành người đàn bà của dân làng chài dân mà người làng luôn có những cái nhìn không thiện cảm. Người làng thường cho rằng người sông nước thường là những kẻ vô ơn bạc nghĩa dân trộm cắp đầu sông cuối ngòi dân tứ chiếng giang hồ dân vô gia cư chết vô địa táng.
          Cái ngày bà còn là con gái mỗi khi ra đường bà sợ nhất những cái nhìn như mắt sói. Bà luôn có cảm giác những ánh mắt ấy nuốt chửng lấy bà. Thế rồi bà gặp được một người con trai không biết từ đâu dạt về làng làm thuê cho nhà Bát Song. Mỗi lần ra đồng thấy người ấy cứ lầm lụi làm mỗi khi gặp bà cũng không như những người khác. Giáp mặt bà đấy nhưng cũng chẳng dám ngẩng mặt lên chào. Quanh năm suốt tháng chỉ có độc một bộ quần áo bằng vải diềm bâu nhuộm nâu dày như mo cau.
          Năm đó nước lũ trên thượng nguồn đổ về dữ quá. Con sông chảy cuồn cuộn đục ngầu một màu vàng vàng của sa. Rều rác trôi lều bều cuộn vào các vòng xoáy. Chiếc cầu tre bắc sang đồng chao qua chao lại lắc la lắc lư. Buổi sáng khi bà đưa trâu sang thả ngoài mục con sông còn trong trẻo và hiền lành. Thế mà bây giờ mới chưa đầy nửa ngày đã đầy nước. Nhìn chiếc cầu tre bà sợ. Nếu đang đi trên cầu mà chẳng may rơi xuống thì khó lòng mà sống nổi. Những cuộn xoáy nước kia sẽ dìm chết chỉ trong nháy mắt. Nhưng bà không thể không sang. Bà phải sang để đưa trâu về. Thời gian gần đây đã có một vài nhà làng bên bị bọn trộm trâu vào tận chuồng dắt trộm. Người khôn của hiếm đói kém dễ làm người ta sinh thói hư sinh đạo tặc. Nhà nông của cải kiếm sống đều nhờ con trâu cả. Con trâu là đầu cơ nghiệp. Không có con trâu rồi thành chết đói mùa vụ lấy gì mà làm ăn cày cấy. Nhìn dòng nước nhìn chiếc cầu dù sợ nhưng bà vẫn phải sang.
          Dò dẫm từng bước lên cầu. Tay nắm vào cây vịn bà lết lết từng bước một. Mới lết ra được chừng hơn hai mét bà thấy cây cầu chao đảo đưa qua đưa lại tròng trành lắc lư như muốn hất bà xuống sông. Bước lên cũng không được mà quay lại cũng không xong bà cố bám thật chặt tay vào cây vịn. Đưa mắt nhìn xuống sông bà thấy hoa cà hoa cải nổ trong mắt. Những xoáy nước bên dưới cứ hút bà xuống. Bỗng chiếc cây vịn tay bị đứt lạt nối các cây với nhau. Bà nhao người. Dòng xoáy bên dưới cuốn bà đi.
          Cứ mỗi lần con sóng đẩy bà lên khi bà định kêu ai cứu nước lại tràn vào đầy miệng. Bà chỉ còn giơ hai tay lên chới với cầu cứu. Dòng xoáy cứ mỗi ngày giật bà ra xa bờ hơn. Rồi bà thấy chân tay rã rời người nhũn ra. Bà càng cố nhoai người lên mặt nước thì hình như dòng xoáy càng cố dìm chìm sâu xuống. Đúng lúc ấy hình như bà thấy có một cái gì không phải cá mà giống như một cái chạc cây rất cứng quặp chặt ngang người bà kéo đi. Chết đuối vớ được cọc bà cứ ôm riết lấy vật đó. Rồi bà thấy cái gì đó cũng rất cứng cứ đánh vào mặt bà. Cái vật đó đánh liên tục cho đến khi bà không còn nhận ra cái gì ngất lịm đi.
          Khi tỉnh lại bà lờ mờ nhận ra bà đang nằm trên bãi trồng mầu của làng. Ngồi cạnh bà là người đàn ông có khuôn mặt quen quen. Khuôn mặt cứ rõ dần rõ dần. Người ngồi cạnh bà không ai khác là Được người đàn ông làm thuê cho nhà Bát Song. Bà nhìn rõ khuôn ngực của Được vồng lên đầy và dầy như ức con trâu mộng. Khuôn ngực có cái cơ cuồn cuồn ấy cứ phập phồng phập phồng. Giật mình bà nhổm dậy rồi lại vội nằm xuống ngay. Chiếc áo của bà đã không còn trên người. Phủ lên trên thân bà là chiếc áo diềm bâu nhuộm nâu dày như mo cau.
          Bà không nghĩ Được lại khổ đến thế. Được bảo bà. Được là con trai của một gia đình thuyền chài ở trên vạn Bo cách nơi này xa lắm. Vì nhà Được đông anh em bao đời lênh đênh sông nước làm nghề kéo chài thả mồi buông lưới. Kiếp sống sông nước đầy ải vất vả. Đất không có một tấc cắm dùi nhà không có một túp để ở. Sống ngâm da chết ngâm xương. Được muốn lên bờ để làm thuê tiết kiệm tích cóp mua lấy mảnh đất cắm dùi. Được không muốn sống cuộc sống sông nước nữa.
          Cho đến bây giờ bà Tèo cũng không hiểu sao ngày đấy Được lại bỏ bà mà ra đi biệt tăm biệt tích như thế. Nhiều đêm không ngủ nghĩ về quá khứ bà giận lão Được lắm. Khi bà báo tin có con Được không nói một câu. Hôm sau Được lẳng lặng bỏ đi đâu bà cũng không biết để bà phải chịu bao nỗi cực nhục của đời. Được  mong muốn rời xa kiếp sông nước mà sao khi biết bà có mang với mình lại bỏ bà mà ra đi. Nhà chỉ có hai mẹ con có ruộng có vườn có nhà có cửa mà sao Được lại đối xử với bà như thế. Nếu Được không thích ở rể thì mẹ bà cũng cắt đất ra cho vợ chồng bà cơ mà. Được vẫn nói với bà mỗi khi vụng trộm bên nhau chỉ mong có được mảnh đất ngôi nhà vui vầy cùng vợ con mỗi ngày đi ra đồng vào ruộng. Bà chỉ có thể tự lý giải Được khi nghe tin bà có con bỏ bà mà đi ấy là vì bà mẹ goá con côi gia sản của cả nhà chỉ có mảnh vườn với gian nhà rách nát. Ngày đó bà hận bà giận Được lắm. Không ai khác chính Được đã làm đời bà chịu bao vất vả tủi nhục. Bà phải sống với lão Kiếm cũng vì Được. Và bà còn sống đến bây giờ cũng vì Được. Vì cái dòng giống của nhà Được chứ đâu có vì bản thân bà.
          Hận Được bà đi tự tử. Nhưng trời cứ bắt bà phải sống cứ bắt bà phải chịu sự đầy ải của kiếp người. Khi bà lội xuống sông trẫm mình thì bà bị lão Kiếm túm chân lôi dọc sông dìm cho đến gần chết rồi vác lên chiếc điếm canh đê. Ấy là khi về ở với lão Kiếm từ khi lão lôi bà từ chiếc mảng chuối mà dân làng mang bà ra thả sông. Lão đã tự nói ra bà mới biết. Còn khi ấy bà cứ nghĩ bà bị ba ba thuồng luồng lôi đi. Khi bà lội ra gần giữa dòng thì tự nhiên thấy có vật gì cứng lắm ngoạm chặt lấy chân rồi cứ thế mà lôi đi. Bà bị nó tha đi đến chết ngạt. Bà càng kêu nước lại càng ộc vào đầy miệng. Bà chỉ biết rằng khi tỉnh lại thì bà lại nằm bên trong cái điếm canh đê ở nơi đồng không mông quạnh. Bà không muốn sống nữa nhưng lại sợ. Khi lội xuống bà lại bị ba ba thuồng luồng lôi đi như lần vừa rồi. Chết như thế mất xác hồn không lên được niết bàn mà phải chịu đầy dưới chín tầng địa ngục thả trong vạc dầu chẳng bao giờ được đầu thai trở lại. Bà nào có biết cái chuyện bị lôi đi dọc sông dìm cho chết ngạt lại là lão Kiếm chịu tội giời đầy cả đời phải sống dưới đáy sông tha bà đi như thế.
          Bà cũng không thể hiểu được. Khi bà và lão Kiếm tưởng như đã an bài với  số phận thì từ đâu lão Được lại lù lù trở về. Ngày lão xuất hiện bà lo đến thắt gan thắt ruột. Lúc đầu bà những tưởng lão trở lại dăm bữa nửa tháng rồi đi. Ai ngờ lão mua lại của người ta chiếc thuyền câu cũ trở lại làm nghề sông nước. Cái nghề mà theo lão chết không có tấc đất để chôn. Phận đàn bà mười hai bến nước. Lênh đênh phận gái theo chồng. Hạt mưa sa ra ngoài đồng hạt sa vào trong chĩnh. Bà cũng chẳng mong ước gì hơn có được gia đình khi cái thân con gái của bà cũng không còn. Lão Được quay lại âu cũng là trời muốn hành hạ thân bà muốn đầy đọa bà thêm lần nữa.
          Điều làm bà khó chịu và rất lấy làm xấu hổ từ khi trở lại làm nghề sông nước lão Được lại rất hay đến uống rượu với lão Kiếm. Nghe lão nói chứng kiến cảnh lão giả bộ làm như không biết chuyện gì lão đã mang đến cho bà với lão Kiếm. Bà chỉ còn biết khóc thầm trong dạ. Những lúc như thế bà lại thấy thương lão Kiếm biết bao. Dẫu lão Kiếm có cáu gắt có tục tĩu có chửi rủa và có gia trưởng thì bà vẫn thấy cái chân thành và thẳng thắn ở lão. Đã có những lúc bà thầm cám ơn tạo hoá đã để lão Kiếm dìm bà xuống sông để lão gắn cuộc đời với bà. Nhưng rồi những lần  thấy lão Được long đong vất vả kiếm miếng cơm từ con cá bà lại thấy thương. Bỏ bà đi biệt tăm biệt tích khi quay lại cũng chỉ đủ tiền mua chiếc thuyền nan đã cũ của người ta để kiếm sống. Làm nghề sông nước mà cái thuyền chiếc cần câu cơm cũng rách nát thì thử hỏi sống được mấy ngày. Lòng bà cứ bộn lên bao mối tơ vò. Cái bà lo nhất sợ nhất là chuyện thằng Lợi mà bấy lâu nay lão Kiếm nuôi nấng chăm lo. Nếu lão Kiếm biết không phải là cốt nhục của lão thì lão giết bà mất. Trời đầy lão cả đời phải ngâm mình dưới nước phải làm bạn với bùn đất nhưng không phải vì thế mà lão không nghe không biết chuyện gì của đời. Bà biết. Một con người như lão Kiếm khi yêu cũng yêu hết mình mà khi đã ghét thì đào đất đổ đi. Được ngày nào lên bờ bà lại tìm đến cửa nhà phật cầu xin đừng để chuyện ấy xảy ra. Đã có nhiều lần đứng trước nhà phật thấy người ta cầu tài cầu lộc còn bà chỉ cầu cho mình chết sớm để không phải gánh cái trái ngang cuộc đời mà không muốn khóc nước mắt vẫn cứ lã chã rơi. Trời còn đầy đọa bà đến bao giờ nữa.
          Có lần nghe mụ Đoác nói chuyện trêu đùa với lão Kiếm chuyện con cái mà bà lo thắt ruột. Mỗi lần lên bờ đi chợ mỗi lần gặp người trên bờ là bà chỉ muốn trốn. Bà sợ từ ánh mắt của thiên hạ. Bà sợ từ cái cười câu chuyện bông đùa của người đời. Bà sợ lão Được trở chứng lại nói nọ nói kia với lão Kiếm. Bà sợ lão Kiếm biết sự thật về việc bà bị làng trôi sông. Và bà sợ chính bà với những nỗi đau không thể nói với ai chỉ một mình gánh chịu. Mỗi khi lão Kiếm có việc vào làng là bà lo lắng mất ăn mất ngủ hàng tháng. Chỉ bao giờ lão Kiếm dục đi chợ mua gói thuốc lào hay lạng chè thì khi ấy bà mới thấy yên tâm.

Lau xong chỗ nước đánh đổ như tiện tay bà lau dọn luôn cả gian nhà thuyền. Bầy cá lão Kiếm đánh về thả nuôi dưới lòng khoang thỉnh thoảng lại quẫy đuôi kèn cựa nhau chỗ nước đáy khoang lục bục. Thở dài bà leo ra đuôi thuyền với tay chài tìm chỗ rách để vá. Con khoang vưỡn vẹo đi đến bên cọ cọ sườn vào bàn chân. Vừa làm bà Tèo vừa đưa mắt nhìn về phía khúc sông Rủ. Những tia nắng cuối ngày sáng chập chờn trên sóng. Cả khúc sông chỉ còn ánh lên màu bàng bạc nhàn nhạt và dờn dợn.