DÒNG SÔNG LẠC LOÀI

PHẠM THANH KHƯƠNG       

DÒNG SÔNG

LẠC LOÀI  

Tiểu thuyết

*****                                                                    

 NĂM 2007                                                                                                                                                                                   

MỖI CUỘC ĐỜI LÀ MỘT DÒNG SÔNG.                                                     

 CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU ĐỔ VỀ BIỂN CẢ.                                                                                                           

 1   

  Chiều muộn.

Một vài cơn gió lạnh hiu hắt thổi. Trên trời con chim nhạn lẻ bày vỗ đôi cánh trễ nải.

Chiếc ô tô hiệu BMW từ từ dừng lại bên này cầu trên đường vào phía nam của làng. Chiếc BMW dừng lại một lát rồi từ từ lùi nép vào bên gốc cây phi lao còn sót lại phía dưới mố cầu nơi rẽ vào con đê. Chỉ cần nhìn đám bụi đất bám bên ngoài người ta sẽ nhận ra ngay chiếc xe vừa phải trải qua một chặng đường dài. Bụi đất bám thành từng mảng bong ra rơi xuống lộ rõ lớp sơn xe đen sẫm bóng anh ánh như màu than cốc. Con đường vào làng vắng hoe vắng hoắt. Mặt đường trải nhựa vài ba chỗ đá nền lồi lên trên dơ dáy. Thi thoảng vọng từ trong làng ra tiếng chú gà trống mới tập gáy tè té te nghe non nớt yếu đuối. 

Cánh cửa xe bật ra. Một người đàn ông tuổi ngoài năm mươi từ trên xe bước xuống. Chiếc giày da đen loang loáng như bôi mỡ bóng soi rõ khuôn mặt người đang đi trên nó. Chậm rãi thư thả người đàn ông đặt từng bàn chân xuống mặt đường. Ra khỏi xe người đàn ông lấy gót chân ẩy mạnh vào cánh cửa. Xong lấy hai tay nâng xốc xốc lại chiếc áo cho ngay ngắn. Đưa tay xuống chiếc khuy phía cuối kéo vạt áo cài cúc. Hình như nghĩ sao đấy người đàn ông lại cởi cúc áo để bộ com lê theo kiểu khoác trần. Chiếc ca ra vát bằng lụa tơ tằm đung đưa trước bụng. Đảo mắt nhìn nhanh xung quanh người đàn ông thong thả bước. Mỗi bước chân người đàn ông như đo đếm độ dài của đất. Thỉnh thoảng người đàn ông lại dừng bước ngẫm ngợi về một điều gì đó.

Bước xuống theo xe là một người đàn ông khác còn trẻ. Đi đến bên người đang thong thả bước phía trước giọng nhỏ nhẹ.

- Anh có cần mũ không ạ.

Bằng một động tác rất diệu nghệ người đàn ông tuổi ngoài năm mươi búng ngón tay.

- Khỏi.

Tiếng nhỏ nhưng giọng nói nằng nặng. Giọng nói của dân sông nước. Chân vẫn chậm chạp đưa từng bước một người đàn ông lẩm nhẩm.

- Hơn bốn mươi năm rồi. 

Hơn bốn mươi năm rồi hôm nay Măng mới trở về nơi khúc sông mà cả gia đình đã sống. Những năm tháng lưu lạc xứ người vì miếng cơm manh áo chẳng mấy khi Măng nhớ về nó. Hoạ hoằn mỗi khi thắng được quả đậm lúc trà dư tửu hậu lúc gánh nặng đường đời trĩu vai lúc quanh mình cô quạnh lẻ loi không bạn hữu hoặc được khi thảnh thơi thư rỗi thanh nhàn lúc ấy bất chợt nỗi nhớ quê mới ập về mơ hồ chập chờn thảng thốt.

Với Măng nơi đây là quê đấy nhưng cũng không phải là quê đấy. Nơi đây Măng không sinh ra và cũng không lớn lên nó chỉ là một nơi mà ngày xưa gia đình hay về đây cắm sào nghỉ ngơi sau một quãng dài thời gian làm ăn lênh đênh sông nước. Bến sông nơi cắm sào đậu thuyền chỉ là một điểm dừng chân như bao nơi khác mà gia đình Măng đã đến cắm sào đậu lại. Nơi ấy cho dù có cắm sào cả đời thì vẫn cứ là bến người không phải của mình. Đất quê mà không được gọi tên nơi lớn lên mà dửng dưng như xa lạ. Nơi cơm ăn nước uống hằng ngày mà không được lưu giữ trong hồ sơ sổ sách dẫu chỉ là cái cớ thói quen hành chính.

Bên kia cầu đã là làng rồi. Chiếc cầu bê tông mới được dựng còn nguyên các dấu tích của cánh thợ để lại. Các thanh dầm còn ngổn ngang hai bên mố. Một vài chỗ lớp bê tông vương vãi đông kết nổi lổn nhổn cạnh vệ đường. Mấy gian nhà tạm bốn mặt thưng gỗ cốp pha làm chỗ ăn ở cho các kỹ sư cán bộ kỹ thuật kiểm tra giám sát công trường chưa kịp tháo dỡ nằm im lìm bên khóm chuối phía trong đê. Những miếng gỗ cốp pha ghép tạm hở hông hốc lộ cả những tờ giấy báo dán che các khe hở bị bục phật phờ. Trên mái mấy tấm tôn có ai đó đã lấy đi để lộ ra những cái khung thép han gỉ. Nền nhà ngổn ngang giấy và túi ni lông dùng đựng thực phẩm đi chợ thải ra. Gian giữa đám tro bếp còn vương vãi bên cạnh ba hòn đá hộc kê làm chỗ bắc nồi. Mặt nền nhà lỗ chỗ gồ ghề mấp mô do bổ củi hay ai đó khoan khoét để cắm cọc mắc màn chống cây giữ vách. Bám quanh nhà những khóm cỏ chỉ cỏ gừng cỏ may mọc cao ngang tầm ngực. Trên mặt sông những mảng bèo sen lều bều trôi. Các loại giấy túi ni lông cỏ rác gỗ phế thải vật vờ trên mặt sóng.

Nằm giáp vào hai bên bờ gần chân cầu từng khoảnh rấp cá ken sát vào nhau. Nhìn những cái búi rấp cá Măng biết đây là búi rấp cá của mấy nhà bên sông bắt chước các gia đình làng chài. Búi rấp cá của người làng chài thường có vài ba cái cờ treo các đầu cọc cắm quanh búi. Những chiếc búi này không có những chiếc cờ nhỏ có hình tam giác ấy.

Búi rấp cá là những bó chà rào đem dựng dưới sông rồi mang cọc tre cắm giữ quây lại. Mỗi búi rấp cá thường rộng bằng ba bốn cái chiếu đôi. Bầy cá sông thường dựa vào những chiếc búi này để làm tổ hoặc rúc vào trong các búi chà rào để lẩn tránh khi có động. Sau khi bỏ búi khoảng hai mươi ngày đến một tháng nghĩa là đám bèo sen thả trong búi đã đẻ kín những con cá đã quen chỗ ở nơi trốn chạy khi có động thì mang đăng quây bốn xung quanh dùng các rổ xúc loại to luồn xuống sát mặt bùn giáp các bó chà rào đã đặt. Lấy tay lật nhanh bó chà rào vào rổ rồi nâng nhanh lên. Các loại cá có vẩy thường không còn trong búi nữa nhưng các loại cá da trơn như trạch chấu trê bò thì thấy động càng rúc sâu vào trong búi chà rào. Đến lúc này chỉ còn mỗi việc lấy tay nhặt từng con cho vào chiếc vịt tre.

Cá trạch chấu thường dài từ ba đến bốn mươi phân. Con nào trưởng thành thì có độ dài tới sáu bảy mươi phân. Da loài cá này ram ráp có màu xam xám. Chạy dọc sống lưng của chúng thường có một lớp xương gai sắc được liên kết với nhau bằng lớp màng mỏng. Khi bị tấn công các xương gai dựng đứng lên như một hàng rào chông. Lúc đó chúng dùng thân mềm dẻo như lươn cuộn người lên để các xương gai đâm vào đối thủ. Khi bắt cá trạch chấu người ta thường phải chẹt vào đầu tay kia cầm túm bèo sen giữ thân không cho nó quật lên trên. Nếu vô tình để các xương gai đâm vào tay những răng cưa bên xương gai sống lưng sẽ xé nát da nọc độc ngấm vào bưng mủ làm hoại tử phần bị nhiễm độc. Cũng vì thế mà khi đánh búi có trạch chấu người ta thường dùng cây gậy đập cho nó mệt rồi mới bắt. Thịt cá trạch chấu nạc thơm. Kho khô ăn ngầy ngậy.

Khác với cá trạch chấu cá bò có hình tam giác dáng như lưng con bò mộng. Đây cũng là loại cá da trơn toàn thân được phủ màu vàng bóng. Trên lưng có một chiếc xương dài cứng và có đường răng cưa. Hai bên mang cá bò có hai chiếc xương cũng dài như xương lưng. Đây cũng chính là vũ khí để tự vệ. Khi bị tấn công chúng nguẩy đuôi bơi đi hai chiếc xương này toẽ ra đâm vào đối thủ. Muốn bắt cá bò phải lựa kẹp hai ngón tay vào sau hai chiếc xương gai này ngón tay cái chẹt phía miệng thành thế khoá. Đến lúc này chúng chỉ còn ngoe nguẩy được đuôi không đâm hai xương mang vào tay được. Thịt cá bò ngon lành và nhiều chất dinh dưỡng hơn cá chép. Người làm nghề sông nước khi đánh bắt được cá bò ít khi bán thường giữ lại để ăn.

Cá trê ở búi rấp sông thường to hơn cá trê ao. Chúng cũng có thân mềm như cá trạch chấu nhưng ngắn hơn trên lưng không có hàng xương cứng mà chỉ là lớp màng mỏng. Chúng có hai chiếc xương cứng sắc nhọn ở hai bên mang. Cá trê cũng như cá bò chúng dùng hai chiếc xương này làm vũ khí để tự vệ. Cá trê ao thường có màu da đen còn cá trê sông con nào béo sống lâu năm còn có màu vàng phơn phớt nhạt. Cá trê thường ở theo đàn làm tổ sâu trong đất. Có những hang chúng ở tới vài ba trăm con. Ở đầu cá trê có hai mẩu sụn hình cái hoa khế. Khi làm thịt dùng dao đập ngang đầu con cá lấy hai miếng sụn hình hoa khế đó bỏ đi. Theo kinh nghiệm người xưa hai miếng sụn hình hoa khế khi nấu kho nó xác ăn không có chất song rất dễ bị hóc hoặc bụng dạ ai yếu dễ bị bệnh đường ruột. Cá trê nấu dưa chua hoặc luộc lên lọc thịt thái nhỏ xương giã lọc lấy nước nấu canh rau cải. Bát canh cá trê vừa ngọt vừa thơm lại giải nhiệt lợi tiểu. Ai đã một lần ăn canh cá trê nấu rau cải sẽ khó mà quên được hương vị ngon ngọt của nó.

Những ngày còn theo lũ trẻ trâu đi đánh búi Măng đã nhiều lần bị cá bò cá trê đánh xương vào tay buốt đến tận óc. Bao giờ bị như thế sau khi rút xương ở hai mang ra khỏi tay để đẩy hết chất độc ra ngoài dùng tay vuốt ép từ trên chỗ bị xương cá đâm vào để đẩy hết chất độc chảy ra theo máu. Bao giờ máu chảy ra chỉ còn màu đỏ tươi thì vạch quần đái vào đúng chỗ đó. Đang buốt là thế nhưng cứ đái vào đó là sẽ không còn buốt nữa. Lúc đó tìm đám cỏ nào tốt nhất là được cỏ mằn trầu hoặc cỏ gừng vơ đút vào miệng nhai. Khi đã nhai nát ra rồi thì lấy bã đắp vào chỗ bị thương. Nếu ở gần nhà chạy về vặt lấy một ít lông con cu ly đắp vào để cầm máu. Lũ trẻ làng khi bị như thế kêu hét ầm ĩ có đứa còn không chịu nổi đau vãi cả nước mắt quẳng cả cá leo lên bờ. Còn Măng những lần như thế chẳng coi là cái gì mặt tỉnh khô. Măng dùng tay kia gỡ con cá ra khỏi tay đập chết ném vào giỏ rồi cạp miệng hút cho hết nọc. Măng chẳng cần phải nhai cỏ hay đắp lông cu ly giơ tay đặt ngay lên đầu dùng tóc để rịt máu.Nhìn những búi rấp cá bất giác Măng giơ tay lên xem. Chỗ khẩu độ tay da sần sùi những vết sẹo nhỏ chồng lên nhau mờ mờ.   

Sau khi xúc hết các bó chà rào người ta dùng vợt gai lựa theo khung đăng đánh bắt số cá đã vào trong búi. Con cá khi bị rỡ bỏ nơi ẩn nấp là các bó chà rào lao đi chạy trốn. Khi đó chúng bị các tấm đăng đã vây xung quanh chắn lại. Có một số loại cá khôn hơn không lao ra các tấm đăng chắn chúng lặn xuống bùn hoặc chui vào các hang hốc ở bờ. Lúc đó con người lại lần theo chân đăng hoặc mò bắt trong các hang hốc lỗ cua nơi mà chúng chạy trốn.

Búi rấp cá là của từng gia đình một nhưng khi rỡ búi đánh bắt cá bao giờ cũng phải có đông người. Ngoài một số người đến cùng gia chủ rỡ búi những người trong làng cũng đến đánh hôi. Khi bắt được những con cá to thì phải trả cho người rấp búi. Những con cá nhỏ giá trị thấp thường được chủ rấp cá cho. Cũng có nhiều người tham khi bắt được những con cá to thường tìm cách giấu đi. Những người này thường giấu cá bằng cách lẳn vào cạp quần cuộn dưới đáy vợt. Bao giờ chủ búi cá tháo khoán chuẩn bị thu đăng lúc đó ai đánh được bao nhiêu hưởng bấy nhiêu không phải trả lại cho chủ búi rấp cá nữa họ mới ném lên bờ cho người nhà hoặc lấy ra cho vào vịt hoặc xiên vào xâu.

Chuyện này thường ít khi làm được vì người chủ búi rấp cá là những người có kinh nghiệm đánh bắt cá nên họ dễ phát hiện ra những người gian lận. Cũng vì thế những ngày đánh búi rấp cá rất hay xảy ra xô sát ẩu đả đánh nhau. Tuy vậy chuyện bắt con cá dưới sông với những người làm nghề sông nước chài lưới nó rất đơn giản không khó khăn gì nên họ thường bỏ qua coi như cá biếu. Hôm nào người chủ búi mà không rộng rãi và người đánh hôi không thật thà rỡ búi rấp cá thành cuộc ẩu đả đến vỡ đầu toạc mặt. Máu me chảy ngoe ngoét trên mặt tóc dính bết vào đầu. Máu lẫn vào nước bùn trong búi đo đỏ nhờ nhờ xám. Mùi cá mùi máu lẫn vào nhau tanh tanh nồng nồng. Sau những lần đi đánh cá hôi người trên bờ học được cách rấp búi và họ làm theo.

Những khúc sông có cá thì cơ man là búi. Có nhiều đoạn sông các búi rấp cá chạy dài hàng trăm mét. Chỉ có điều khúc nào có nhiều cá cá ngon người trên bờ không biết người làm nghề sông nước chài lưới mới có thể biết. Vì thế những người làm nghề sông nước chài lưới phát hiện đoạn sông nào có nhiều cá họ làm một số búi rấp cá thật xen thêm các búi giả. Đánh xong một lần người ta thường giả vờ chuyển đi khúc khác làm như khúc sông đó không còn cá để người trên bờ không mang chà rào đến rấp búi. Sau đó họ quay lại rấp búi tiếp.

Những chiếc búi rấp cá của người làm nghề sông nước chài lưới bao giờ cũng có hai ba cái cờ nhỏ hình tam giác treo trên các đầu cọc. Những chiếc cờ này như dấu hiệu đánh dấu chủ quyền của mỗi người. Nhìn cờ là người ta nhận ra búi của nhà ai. Việc treo cờ cũng để bạn chài ai đi qua có ý trông giúp hộ. Người trên bờ thường không có cờ vì họ có thể ra thăm búi thường xuyên được. Khó khăn sinh đạo tặc nên cũng đã có đôi ba lần búi bị đánh trộm lấy mất các bó chà rào rấp búi nhất là các bó chà rào đã rấp được hai ba lần có hà bám. Các bó chà rào loại này thường có mùi tanh tanh nên cá sông thường thích ở những búi loại như thế.

Những búi rấp cá quanh chân cầu bèo sen mọc đã quá tốt lấn ra cả ngoài cọc giới hạn xanh ngằn ngặt. Hoa bèo sen trong các búi rấp cá nở tim tím nhàn nhạt. Những bông hoa bèo sen trông như những cái chổi phất trần làm bằng lông gà. Bông hoa bèo sen được hình thành từ các cánh hoa đơn lẻ mọc ra ở các ngách cọng hoa. Những cánh hoa này mọc ra ép vào nhau thành từng lớp vuốt dài lên phía trên. Cánh hoa sen rất mỏng chỉ cần cầm vào là chúng có thể rách. Bên dưới cánh hoa có màu trắng đục càng vươn lên phía trên cánh hoa bắt nắng chuyển dần sang màu tím. Nhìn từ xa màu trắng ở phía dưới cuống bị các màu tím phía trên át đi nên tạo cho người nhìn ảo ảnh một màu tím của hoa. Hoa bèo sen chỉ nở từ ba đến bốn ngày thì tàn. Khi tàn cánh hoa bèo sen không rụng như các loài hoa khác mà chúng rũ xuống chờ cho cả bông hoa cùng rũ theo. Khi cánh hoa bèo sen tàn chúng rất dễ mủn chỉ cần một tác động nhẹ cũng làm các cánh hoa tim tím một thời nát ra thành từng mẩu nhỏ.Nhìn đám bèo sen trong búi rấp cá đây là những chiếc búi đã để lâu quây đăng đánh lúc nào cũng được. Những loại búi rấp cá này thường có rất nhiều cá da trơn. Hàng cọc cắm giới hạn các búi rấp cá rều rác bám đầy phía trên phơi nắng khô quắt queo. Con sông bị các búi rấp cá lấn chiếm gần hết phần mặt nước dòng chảy. Nếu không có các búi rấp cá con sông rộng bốn năm mươi bước chân. Thế mà bây giờ chỉ còn hẹp như con ngòi nhỏ. Giữa dòng nơi thuyền bè qua lại chỉ đủ cho vừa hai chiếc thuyền câu đi lọt. Vài ba dàn khung vó bè giơ lên phơi gọng nghều nghào. Mỗi khi có gió dàn vó lại kêu kèn kẹt kèn kẹt. Nước sông lờ lờ màu gạch cua. Bao giờ nước sông có màu lờ lờ gạch cua chẳng sớm thì muộn chỉ từ ba đến bốn ngày thế nào cũng có lũ về.  

Phía bên kia sông ngay sát chân cầu nằm về phía thượng nguồn là bến sông của làng. Bến vắng lặng con sóng bị đám bèo sen chặn lại không đủ sức xô vào bờ. Chúng chỉ còn là những đợt sóng dập dềnh vỗ táp bờ lép nhép. Hai bên bến phần mặt nước bèo sen lấn ra gần hết chỉ còn hở một khoảng bằng chiếc chiếu kéo dài ra phía dòng. Cây bàng cạnh bến sông giơ những cành khẳng khiu lên trời. Mùa đông về từng trận gió bấc rứt đi khỏi cây bàng từng chiếc lá. Gió ném thẳng từng chiếc lá lên cao rồi dúi xuống đất thả trôi sông vật vờ. Trên các mắt cành bàng vài ba cái chồi nhú sớm trông nâu nâu màu đất. Đứng bên này sông trông sang cây bàng bây giờ chỉ còn một màu xam xám. Mấy cái bậc lên xuống bến xây bằng gạch trải qua năm tháng sứt mẻ vỡ nhôm nhoam trông không khác gì hàm răng sứt vêu vao.

Nằm vắt trên mấy cái bậc là chiếc quần dài rách của ai đó ném lại. Chiếc quần như cái xác người nằm thườn thượt chân vắt lên bờ đầu cắm xuống nước. Bên mép nước lớp cỏ gừng cỏ chỉ lâu ngày không có người dọn mọc dài nghêu ngao đổ rũ xuống mặt sông.Con sông nằm kẹp giữa một bên là làng một bên là cánh đồng. Bờ sông phía làng các bụi tre gai ken đặc xanh ngằn ngặt. Các tay tre đan vào nhau nhằng nhịt che kín không có một khoảng hở nhìn vào làng. Tít trên ngọn cao vài ba con cò lửa đậu rỉa lông thỉnh thoảng lại ngoái ngoác đầu dò xét. Lúc lúc chúng lại nhảy lên rồi đậu lại ngọn tre gật gù lắc lư như say. Phía bên cánh đồng bám sát mép sông là con đê chạy ngoằn ngoèo cao hơn mặt sông chừng năm sáu mươi phân. Con đê chạy uốn lượn trông không khác gì con rắn đang trườn đi tìm mồi.  

Đồng lúa rộng mênh mông xanh ngăn ngắt. Lúa đang kỳ chuẩn bị làm đòng nên cả cánh đồng tịnh không một bóng người. Ngay đám trẻ trâu vào giai đoạn này cũng không dám đưa trâu ra chăn. Một quy định bất thành văn của các làng xã nông thôn là vào thời gian này gọi là kỳ cấm đồng. Trâu bò chăn thả dễ phá hỏng bờ ruộng làm cho nước thoát cây lúa không đủ để tích sức cho ra bông. Ngoài việc sợ làm hỏng bờ nếu chăn thả lúc này chỉ cần sơ xuất trâu bò ăn lúa coi như những chỗ đó không có thu hoạch. Có muốn cấy dặm cũng không mang lại kết quả. Trồng cấy bao ngày đến giai đoạn này là giai đoạn chờ kết quả. Nếu không công tưới tắm bón phân vạc bờ cuốc góc thành công cốc.  

 Thẫn thờ Măng đi dọc triền đê. Măng muốn cảm nhận tình cảm thực của mình về nơi một thời đã ở. Ngược lại phía dòng chảy Măng men theo con đê đi hướng lên phía thượng nguồn. Ngày xưa con đê này hai bên là rặng phi lao cao vút. Chiều chiều sau khi đã cùng lũ trẻ trâu chơi đủ các trò mệt nhoài lũ trẻ lại ngồi túm năm tụm ba trên mặt đê chơi trò nối lá. Chúng nhặt những chiếc lá phi lao khô rồi dùng hai tay nhẹ nhàng kéo từng đốt lá cho rời ra. Sau khi đã kéo hết các đốt lá chúng lại cặm cụi cắm các đốt lá vừa kéo ra vào với nhau. Đứa nào nối được nhiều đốt lá lại với nhau thì sẽ thắng.

Vào mùa đông chúng thường nhặt các quả phi lao khô cho vào các cóng bơ sữa đã đục thủng một miếng bên cạnh. Trên mép cóng đục hai lỗ nhỏ đối diện nhau để luồn dây. Khi đã cho các quả phi lao khô vào chúng dùng giấy đốt cửa phía dưới đáy cóng. Quả phi lao khô bắt lửa chúng cầm đầu dây quay tròn cho khói tản ra và cho quả phi lao cháy thành lửa. Khi các cóng của mọi đứa đã cháy đều chúng túm tít lại ngồi vây xung quanh tránh rét. Lá và quả phi lao là nguồn để lũ trẻ trâu bày các trò chơi các mùa. Thời gian cũng trôi theo những trò chơi để quên cái đói cái rét.

Trên mặt đê mọc giữa hai hàng phi lao và bên sườn cỏ gừng mọc dày làm nên thảm cỏ mượt mà. Đặt chân lên mặt đê một cảm giác mát lạnh và êm ái yên lành trên mỗi bước chân. Tối tối đám trẻ con trong làng vẫn thường ôm chiếu ra ngủ cùng mấy anh thanh niên trên mặt đê vào những đêm tháng mùa hè. Vào những đêm như thế mặt đê rầm rầm rì rì tiếng nói chuyện huỳnh huỵch tiếng bước chân chạy đuổi nhau của lũ trẻ chơi trò trốn tìm tiếng cãi nhau của mấy đứa tranh phần cỏ trải chiếu. Trên mặt cống nơi người ta lấy nước vào đồng theo con ngòi nhỏ lũ con gái thì thụp cho nhau củ khoai lang luộc.

Tách riêng ra như là một thế giới khác thế giới của thiên nhiên tiếng lá phi lao lao xao tiếng bày dế ri ri bên sườn đê.  Bây giờ rặng phi lao không còn. Mặt đê vồng lên võng xuống xẻ rãnh. Trên các vết bánh xe công nông nước đọng lại thành từng vũng nhỏ. Lẩn trong đám nước đọng của vũng những con bọ gậy bơi cung quăng bắn mình loằng ngoằng. Một vài vũng nơi có phân trâu bò những búi giun đất nhỏ đỏ thẫm cuốn vào nhau như cuộn chỉ rối. Sườn đê cũng không còn những thảm cỏ gừng xanh mướt nằm ép xuống mặt đất. Thay vào đó là những tấm bê tông vuông vuông có những cái lỗ tròn tròn xếp đặt theo đúng thứ tự quy luật ghép lại với nhau. Nhờ có công nghiệp hoá con đê ngày xưa đã được kè hoá xi măng.

Dưới sông một vài đám bèo sen nở hoa tim tím. Những cánh hoa mỏng mảnh đung đưa theo gió. Thỉnh thoảng vài ba con nhái thấy động nhảy vọt ra khỏi búi cỏ xuống nước. Chúng ngóc đầu giương đôi mắt nhìn ngơ ngác bàn chân đạp đạp nhè nhẹ trong màu nước gạch cua. Để mặc hoa cỏ may bám đầy gấu quần Măng cứ bước chầm chập từng bước một. Những bước chân về một thời quá vãng.

Từ trong làng tiếng chú gà trống choai tập gáy vẫn thi thoảng lại cất lên tè té te vọng sang. Tiếng gáy lọt qua rặng tre gai bao bọc lấy làng vọng qua sông lọt thỏm vào không gian rộng lớn của cánh đồng. Tiếng gáy không đủ sức vượt qua khoảng không gian rộng lớn đó nó loãng ra rồi lặn sâu vào trong gió. Những cơn gió cứ vô tư dềnh dàng đùa nghịch trên những ngọn cỏ bông lúa hay cánh hoa sen lập lờ dập dềnh trên sóng rồi kéo tiếng gáy cùng nhau bay vút lên trên cao. Tiếng gáy khi đó chỉ còn nghe âm tè tè ngắt quãng đơn điệu.

Thả bộ một mình trên đê Măng bỗng nhận ra rằng bao nhiêu năm qua Măng chưa hề có một nơi để về. Gió se se hây hẩy lạnh. Măng chép miệng tặc lưỡi đưa tay kéo khoá. Vừa đi Măng vừa vẽ rồng vẽ phượng trên mặt đê. Xong Măng đưa tay vuốt vuốt cho đám tóc bị gió làm cho rủ xuống mặt ượt về sau.    

 Đồng chiều muộn thoang thoảng mùi lúa mùi bùn mùi váng phèn nước chua và cả mùi phân trâu bò hoang hoải.

Bóng Măng đổ dài xuống sườn đê. Nửa bóng người phần trên nằm vật vờ trên mặt sóng. Măng bước đi nửa phần bóng cũng lập lờ trôi theo…

Phạm Thanh Khương

Gửi anh Hồ Tĩnh Tâm

Thưa quan anh yêu mến của em!
Sông lạc loài và người cũng lạc loài đó bác. Cuối thì nó mới nhận ra nó là ai và như thế nào. Nơi đây sẽ có đầy đủ cuộc sống của dân chài. Cái này dài lắm hơn 400 trang in cơ ( phần 1). Em chưa công bố đâu post cho các anh chị nhà ta xem trước đấy. Post hết lên cho các bác thế thì ai mua và nuôi em đây.
Em cũng muốn lạc loài vào anh nhưng kẹt quá. Nếu anh em trong đó ra Hà Nội bác cứ bảo đến em uống xong rồi nói. Phải thế không bác.
Bao giờ anh đi thực tế tỉnh nào gọi ra em gửi giấy giới thiệu vào để bác đi. Thừa thiếu đâu em chịu.
Em cũng thích tý tý lại thích nhưng lại không có ai thích. Mà em thích rồi thì giời cũng không rứt ra được. Nặng trách nhiệm lắm. Bác nhắm giúp em vậy.
Thằng cha Măng này mất dạy lắm đấy anh ơi! Mất dậy nhất thế gian. Có thì em gửi riêng cho bác đọc chơi thôi.

Lão Du Già HTT

Gởi Phan Ching Seng.

Lão Du Già HTT vừa vào đọc xong phần 1 thấy lý thú lắm. Cả một kho tri thức về thủy sản. Khoái nhất là viết về cách bắt cá cách chất chà gở chà. Nhưng hình như PTK chưa quan tâm miêu tả tâm trạng nhân vật Măng thì phải? Nên để cho kỷ niệm sống dậy trong hồi ức nhân vật. Là Lão Du Già nói thế thôi chứ viết như vậy là đắc lắm rồi- Lão Du Già cũng chỉ mới đọc phần mào đầu đâu đã biết hết mà ý kiến này nọ. Ngày xưa tôm cá nhiều thế nay bói đâu ra sông lạc loài là phải.
Mà nè sông lạc loài chứ người có lạc loài không? Lão Già Du nghĩ rằng PTK chắc sẽ đề cập đến mặt đối trọng này của tiểu thuyết để tăng sức nặng cho nó. Nếu viết xong rồi thì Lão Già Du còn nói để làm gì.
Còn PTK thì hãy lạc loài vô Nam Bộ một chuyến cưới xừ tạm bợ một mợ đất Mũi xem thịt da cực Nam nó thơm tho mùi biển ra làm sao.
Đúng là viết ngắn thì người ta dễ đọc nhưng tiểu thuyết mà cắt vụn ra quá cũng cơ khổ cho nó. Thôi cứ coi như vnweblog là nơi mình gởi tác phẩm lên cho nó sống trên trời ai rảnh thì đọc ai bận thì nghía qua cho biết. Hổng có sao đâu.
Lúc nào rảnh Lão Du Già HTT sẽ đọc tiếp các phần khác.

Pham Thanh Khương

gửi anh Nguyễn Đức Đát

Nào em có biết để thế nào cho vừa đâu.Hôm nay mới là ngày thứ 3 em lập trang này mà anh. Mấy lần trước lập ở ngôi sao blog và 360 nhưng thấy nó xấu ít tiện ích và hay lỗi chữ nên bỏ luôn. Bác để em sửa lại. Mong bác thông cảm và đọc giúp cho là đã quý lắm rồi. Em xin sửa ngay đây. Nhưng mà để em hỏi mấy chuyên gia đã.
Anh đọc thấy gì chưa được nói giúp em biết.
Cám ơn anh rất nhiều!

Nguyễn Đức Đát

Gửi PTK

Chữ nhỏ truyện dài đọc phát mệt
Thời gian quá ít đọc sao xiết
Khương ơi nghĩ cách ít từ thôi
Anh em đến thăm mới coi hết