MẦM CHỮ

MẦM CHỮ
Đan Lai
Cô giáo Trần Thị Thanh Nga và "3" lớp 1-2-3  ở điểm trường khe Lẻ!

                                                       

         
          Nghe tin giữa vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát ở huyện Con Cuông Nghệ An có tộc người Đan Lai "ngủ chống chạc ba dưới cằm" tôi rủ mấy anh em bên Hội Nhà văn làm chuyến "mục sở thị". Khi "lang lẩm" ở trung tâm xã Môn Sơn chúng tôi được biết. Hiện tại số tộc người Đan Lai sống trong vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát chủ yếu tập trung ở 2 bản Khe Búng và Cò Pạt. Theo tiếng Thái khe Búng có nghĩa là con suối ở rất xa trong rừng sâu. Còn Cò Pạt thì có nghĩa là bản ở chỗ cây Pạt. Cò tiếng Thái là cây. Cây Pạt là loại cây dùng chữa bệnh sâu răng.  Loại cây này to như cây đa dưới xuôi. Còn pù là núi mát là mát mẻ. Rừng Pù Mát nghĩa là rừng mát mẻ. Từ trung tâm xã Môn Sơn muốn vào được 2 bản này chỉ có con đường "độc thủy" duy nhất là ngược 47 thác theo sông Giăng từ đập Phà Lài để vào. Biết chúng tôi muốn vào 2 bản Khe Búng và Cò Pạt chị Ngân Thị Thơm Phó Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc xã Môn Sơn giục: Nếu muốn vào thì đi ngay. Thời tiết có sương mù nhiều thế này là vài ba ngày nữa sẽ có mưa. Lúc đó lũ tràn về không đi được. Sáng sớm hôm sau khi sương còn la đà trước hiên nhà chúng tôi đã vội xuống xuồng để ngược thác vượt lên.

Khi đoàn công tác vừa bước chân vào đến sân tổ công tác cắm bản Búng nơi có tộc người Đan Lai sinh sống chúng tôi gặp người đàn ông có nước da sậm màu ăn mặc tề chỉnh dẫu không sơ vin ca vát song nét người tri thức cứ lồ lộ ra. Biết ý Đại úy Võ Văn Quỳnh Tổ trưởng tổ cắm bản Búng giới thiệu. Đó là thày giáo Phan Anh Thống dạy ở điểm trường Tiểu học sơ sở 3 Môn Sơn. Điểm trường đóng ở bản Búng nơi có 87 hộ với 436 khẩu tộc người Đan Lai đang sinh sống. Thày Phan Anh Thống đã có "thâm niên" dạy học ở đây được chục năm. Quá bằng "buồn ngủ gặp chiếu manh" tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng tranh thủ "khai thác tư liệu sống" luôn bất chấp mâm cơm đã sắp thức ăn đã đợi.

Khi hỏi thày giáo Phan Anh Thống về tộc người Đan Lai. "Được lời như cởi tấm lòng" thày Phan Anh Thống kể cho chúng tôi nghe về truyền thuyết đã tạo nên tộc người này. Theo truyền thuyết người Đan Lai nguyên là người Kinh gốc ở Thanh Chương Nghệ An. Vào cuối đời hậu Lê do mâu thuẫn giữa hai dòng họ Lê và Nguyễn. Họ Nguyễn có người làm quan trong triều nên đã lợi dụng vào địa vị thảo giả ra sắc vua. Trong sắc gửi họ Lê yêu cầu dòng họ trong vòng 7 ngày phải nộp cho nhà vua 100 cây tre vàng và con thuyền liền chèo. Vì thất học   không hiểu thâm ý của họ Nguyễn sợ phạm tội khi quân phải chết chém cả họ nên đã bồng bế con cháu bỏ làng mà đi. Cứ dọc sông Giăng đi vào tận nơi sơn thâm cùng cốc lấy hang đá hốc cây làm nhà vào rừng kiếm củ măng củ mài lá cây hoa trái sinh sống.

Trải qua bốn năm trăm năm lam lũ nhóm người này không những chỉ mù chữ mà còn "quên" tiếng nói "quên" phong tục tập quán "quên" nếp sống xưa trở thành tộc người Đan Lai trong nhóm dân tộc Thổ trong 54 dân tộc anh em. Cách đây khoảng chục năm người Đan Lai cũng đã tìm về Thanh Chương để tìm lại dòng họ xưa. Họ Lê ở Thanh Chương cũng đã "nhận" số người dòng họ "thất lạc" của mình. Ngày chia tay để trở về nơi ở trong vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát dòng họ Lê ở Thanh Chương có tặng cho số người Đan Lai chiếc trống da làm "kỷ vật" ngày nhận lại anh em. Thế rồi khi mang trống về đến nơi ở người Đan Lai đem trống ra chiếc lều ngoài rừng để. Mặc dù chiếc trống là "vật báu" nhưng để giữa rừng không người trông giữ bị kẻ trộm lấy mất. Thế là chút dây kết nối với dòng họ xưa cũng đứt. Người Đan Lai lại trở lại với nguyên xưa tộc người lẻ loi trong rừng đại ngàn Pù Mát.   

Từ chuyện mù chữ phải chịu cảnh bỏ làng "trốn chạy" rồi "quên" tất cả cuộc sống đói khổ vất vả sống dựa vào thiên nhiên săn bắt hái lượm tộc người Đan Lai đứng trước những "nguy cơ" xóa sổ. Để đưa người Đan Lai trở lại hòa nhập cộng đồng Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt Đề án "Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi vườn quốc gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An". Trong đề án có nhấn mạnh việc để trở lại với cộng đồng bước đầu tiên chính là "gieo mầm" cái chữ cái mà xuất phát điểm đã đưa người Đan Lai đến tình trạng hiện nay.

Khi trao đổi với chúng tôi về chuyện "gieo mầm" con chữ ở đây thày giáo Phan Anh Thống bộc bạch. Ngày đầu tiên vào bản ngôn ngữ của người Đan Lai cứ líu ríu như chim không thể hiểu được là người dân đang nói gì. Tiếng nói của người Đan Lai là sự lai tạp của 3 dân tộc Thái Lào Kinh. Nếu chỉ có ngôn ngữ của 3 dân tộc này thì dù sao cũng có thể luận ra được. Nhưng cái khó nhất trong ngôn ngữ của người Đan Lai pha lẫn cả tiếng lóng của 3 dân tộc trên nên tạo thành thứ ngôn ngữ "riêng" mà chỉ có người Đan Lai mới có thể hiểu được. Cộng vào đó là sự biến thể của ngôn ngữ người khu Bốn nên càng khó hiểu. Ngôn ngữ "độc đắc" cơ sở thì không có gì ngoài bãi đất bỏ hoang bên bờ sông Giăng. Rồi đói. Cái đói cuốn người Đan Lai vào rừng để kiếm cái ăn cho sự tồn tại. Tộc người Đan Lai biết cũng vì mù chữ mà nên nông nỗi này. Song không có chữ dẫu sao cũng chưa chết nhưng nếu không có ăn thì cầm chắc cái chết. Muốn biết chữ đấy nhưng vì đói nên cái chữ được xếp xuống hạng thứ của nhu cầu sống.

Trên đường vào bản Búng đoàn gặp mưa. Sợ nước lũ tràn về nguy hiểm chúng tôi có ghé lên điểm trường ở bản khe Lẻ nơi có một số hộ Đan Lai dịch cư về sinh sống. Cả điểm trường ở đây số học sinh chưa đủ mười đầu ngón tay. Điểm trường có 2 gian nhà trống tuềnh trống toàng thưng phên nứa ngang tầm ngực được chia cho tất cả các khối từ lớp 1 đến lớp 5. Chiếc bảng đen treo trên vách lớp cô Trần Thị Thanh Nga được chia làm 2 ô. Một nửa phía gần cửa ra vào là dành cho 3 em lớp 1 phần còn lại là dành cho 2 em lớp 2. Đấu lưng vào phòng học do cô Nga là gian học của khối lớp 4 và lớp 5 do cô Vi Thị Cúc đứng lớp. Lớp 4 chỉ có 1 em còn lớp 5 có 3 em. Thấy đoàn chạy mưa vào trường cô Nga và cô Cúc chạy ra giúp vì đường rất trơn. Nếu đi không cẩn thận chỉ cần trượt chân ngã đầu đập vào những tảng đá "ông sư" nhẵn thin thín kia thì chả biết chuyện gì xảy ra. Tranh thủ lúc trú mưa hỏi cô Nga và cô Cúc về chuyện dạy và học ở đây. Theo các cô học sinh ở đây biết đọc biết viết là đã được lên lớp "vô tư". Nếu không cho lên lớp mai cô vào rừng mà tìm em nhé. Ấy là chưa kể hôm nào "tự nhiên"  không thích đến trường thích đi rừng theo bố mẹ cô phải lặn lội tìm rồi "nịnh" đến khản cổ mới theo về. Chuyện giữ học sinh đến lớp hơn cả "chuyện quan giữ ấn". Vất vả là thế song lương cũng chỉ có 1 2 triệu/tháng. Hết giờ lên lớp cả 2 cô lại "nhòn nhõn" trong gian phòng cỡ chừng khoảng 4 mét vuông với nhau.   

Nghe chúng tôi kể lại chuyện ở điểm trường khe Lẻ thày Phan Anh Thống nói vui. Được về dạy ở dưới điểm khe Lẻ là coi như được về "thành phố" rồi đấy. Xét trên góc độ quãng đường cơ sở sinh hoạt thì quả đúng vậy. Từ điểm trường bản Búng để về được đến trung tâm xã Môn Sơn giá đi thuyền khi vào là 100 ngàn còn khi ra là 50 ngàn.  Ở điểm trường khe Lẻ giá khi vào chỉ có 40 ngàn còn khi ra là 20 ngàn. Ấy là khi vào hay khi ra phải đảm bảo đủ số giáo viên còn nếu ai không đi hoặc đi thuyền khác lần sau quên đi nhé. Lúc đó để vào hoặc ra chỉ còn mỗi nước "cởi quần quấn cổ" "lội ngược" sông Giăng. Vì biết "hoàn cảnh" của số thày cô giáo ở đây nên "nhà đò" bắt chẹt. Biết thế mà đành chịu. Vì thực ra chạy thuyền ngược sông Giăng không phải ai cũng có thể chạy được. Nếu không chỉ cần lật thuyền thì coi như cầm chắc làm bạn "hà bá". Ấy là chưa kể mưa xuống là lũ có thể ập về bất cứ lúc nào.  

Hỏi chuyện về "kỷ niệm" những năm tháng đứng lớp các thày cô đều cho hay. Mỗi một ngày dạy học ở đây là một kỷ niệm. Hôm đó điểm trường khai giảng. Trống đã dục thày cô đã đứng hàng ngũ nghiêm chỉnh để làm lễ chào cờ nhưng học sinh thì vẫn đang trên cây sung cây ổi hì hụi cạnh bếp nướng sắn. Thày cô giáo phải đi cầm tay từng em kéo xếp vào hàng. Khi chủ lễ vừa hô chào cờ thì thấy dưới hàng học sinh nhốn nháo. Ngoái xuống thấy có một học sinh hai tay ôm bụng đau nằm quằn quại nôn ẹo miệng sùi bọt trắng. Hỏi ra mới biết. Vì muốn được đến trường đói quá ăn sắn sống bị say. Thấy thế thày cô bế vội vào phòng lau rửa rồi làm cho bát mì tôm thế là tỉnh dần. Chuyện đang trong giờ học đói quá vén lá cọ chui ra ngoài vào rừng trèo sung bẻ ổi vặt lá ăn là chuyện thường. Tổng kết năm học các thày cô giáo góp tiền tổ chức chia tay phu huynh và học sinh. Việc chia tay cũng là để trao đổi với phụ huynh và dặn dò  học sinh nhớ ôn chữ nghĩa để sang năm bước vào năm học mới "đỡ" quên. Thấu lòng thày cô nhưng hiềm nỗi nghèo dân làng vào rừng hái me rau rừng đào măng về góp liên hoan. Đến khi vào bữa liên hoan học sinh tranh nhau ăn vì có bao giờ bữa ăn có được miếng thịt. Có một vài em còn lấy mỡ bôi lên tóc lên mặt rồi nhét vào cả tai mũi để "giữ" mùi mỡ cho đỡ thèm. Nhìn thấy thế tất cả thày cô đều lặng lẽ "gác đũa" nhường trò rút khăn thấm những giọt nước mắt không dám để các em nhìn thấy.

Chuyện dạy ở đây là thế còn chuyện học cũng lắm gian nan. Do tập tục của tộc người Đan Lai lấy vợ lấy chồng sớm 13 tuổi là đã xây dựng gia đình. Thêm vào đó là tục hôn nhân cận huyết thống cứ khác họ là có thể lấy nhau. Nếu em gái họ Lê lấy chồng họ La là con anh trai có thể lấy con em gái nên trẻ em của tộc người Đan Lai rất yếu thấp và thường bị thiểu năng trí tuệ. Cũng vì thế mà cứ có học sinh đến lớp biết đọc biết viết biết làm phép tính cộng trừ là đã "thắng lợi" rồi. Chuyện học một lớp vài ba năm chả sao. Mưa dầm thấm đất. Học mãi rồi cũng sẽ biết. Khi chúng tôi ngồi nói chuyện với thày Phan Anh Thống có một thanh niên cứ "le ve" bên cạnh hóng chuyện. Hỏi. Đó là học sinh Lê Văn Sinh năm nay 24 tuổi đã có vợ và 2 con và cũng đã theo học "lâu lâu" rồi nhưng vẫn "đậu" ở lớp 5 khoảng 5-6 năm nay. Vì muốn học lấy cái chữ nên thầy đi đâu Sinh cũng đi theo để mong có thêm được cái chữ trong đầu.

Tôi đem câu chuyện học hành trao đổi với già làng Lê Văn Khai. Nghe xong già làng thở dài: Vì không biết chữ mà tộc người Đan Lai mới khổ như bây giờ. Muốn cái chữ lắm nhưng cái bụng đói không học được. Sông Giăng muốn có nước cũng phải nhờ mưa nhờ suối. Người Đan Lai muốn có chữ nhưng cũng phải có củ sắn củ măng trong bụng mới đi được chứ. Đói khổ nên nó cuốn cái chữ đi thôi. Có thày cô có trường có lớp rồi người Đan Lai sẽ học. Thày cô dậy "lâu lâu" là học được thôi mà. Nghe già làng nói chợt nghĩ. Hạt giống gieo trên đá đâm chồi nẩy lộc được đâu có dễ. Đằng này không những chỉ trên đá mà còn thăm thẳm trong rừng sâu gian nan vất vả là lẽ thường tình. Dẫu có vất vả dẫu học sinh học "lâu lâu" mới biết đọc biết viết song cái "mầm chữ" đã bám rễ vào đất rừng Pù Mát rồi. Hạt mầm đã nảy đã bám rễ sớm hay muộn từ những hạt mầm ấy sẽ lan tỏa sum xuê thành rừng. Cũng như "mầm chữ" đã bám được vào giữa đại ngàn vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát. "Mầm chữ" hôm nay sẽ là con đường đưa tộc người Đan Lai về lại với cộng đồng./.