CON ĐƯỜNG TRỞ LẠI LOÀI NGƯỜI...

BÀI 3: HỒI SINH MỘT TỘC NGƯỜI 

Trẻ em ở Bản Búng

            Khi ngồi trao đổi với anh Nguyễn Ngọc Minh Thượng tá Chính trị viên đồn Biên phòng Môn Sơn về tộc người Đan Lai. Anh Minh tâm sự: Từ tháng 12 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 280/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An" rồi. Hiện nay các ban ngành của Nghệ An đã dốc sức vào thực hiện. Thực hiện được đề án của Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thì đây thực sự là một cuộc hồi sinh cho tộc người Đan Lai. Nhưng để có được sự hồi sinh ấy cũng là cả một quá trình vất vả đẫm mồ hôi thậm chí đổ máu của người lính Biên phòng.

* Hồi sinh.

Theo Thượng tá Nguyễn Ngọc Minh vào những năm 1960 trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới đội tuần tra của đồn Công an nhân dân vũ trang Môn Sơn nay là Bộ đội Biên phòng đã phát hiện có một tộc người "lạ" sống trong rừng sâu. Ngày đó do khu vực rừng Pù Mát phỉ Vàng Pao còn lén lút hoạt động. Cộng vào đó khu vực này cũng là nơi Mỹ - ngụy tung các toán gián điệp biệt kích để xâm nhập nên địa bàn giáp biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào tương đối phức tạp. Phần nữa tộc người này cứ thấy bóng dáng bộ đội là lại tìm cách bỏ trốn. Họ vẫn nghĩ đó là quân binh của triều đình đi tìm bắt họ về trị tội vì thế mà việc tiếp cận được với dân là vô cùng khó khăn. Trong giai đoạn này gần như trong cánh rừng Pù Mát nơi nào cũng có dấu chân của tộc người Đan Lai. Thượng tá Nguyễn Ngọc Minh còn cho biết: Ngay bây giờ trong khu vực các khe Tò Tò khe A khe B (các khu vực này cách bản Búng gần 2 ngày đường) vẫn còn lưu lại dấu vết của tộc người Đan Lai. Rừng rậm núi cao khe sâu nhiệm vụ bảo vệ biên giới chống gián điệp biệt kích chống phỉ Vàng Pao xâm nhập luôn đòi hỏi cán bộ chiến sĩ đồn Môn Sơn phải căng sức ra mới có thể hoàn thành. Cũng chính vì thế mà đời sống của tộc người Đan Lai gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Cũng theo Thượng tá Nguyễn Ngọc Minh cho biết khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới cán bộ chiến sĩ đồn Biên phòng Môn Sơn đã tìm mọi cách để có thể tiếp cận được với tộc người Đan Lai. Cán bộ chiến sĩ đồn Biên phòng Môn Sơn đã lặn lội cùng ngủ hang ngủ rừng cùng ăn măng ăn sắn với đồng bào. Để có thể tiếp cận được với đồng bào để đồng bào không "trốn chạy" khi thấy bóng dáng của người lính cán bộ chiến sĩ của đồn đã phải "hóa thân" thành những "người" như Đan Lai. Cứ thế. Một ngày hai ngày rồi ba ngày. Một tháng hai tháng rồi ba tháng. Khi người Đan Lai thấy những "người" mặc sắc phục xanh trở nên quen thuộc không định "bắt" mình để về trị tội thì lúc đó anh em mới tiếp xúc được với dân. Cũng chính nhờ có sự tiếp cận và quản lý của đồn Biên phòng Môn Sơn nên hiện nay tộc người Đan Lai đã biết nói tiếng Kinh các tập tục như ngủ ngồi tắm cho trẻ sau sinh trồng lúa nước cũng đã từng bước được khắc phục và phục hồi trở lại.

Có một câu chuyện mà cho đến bây giờ không chỉ tộc người Đan Lai mà tất cả người dân ở xã Môn Sơn còn nhớ về sự hy sinh của người lính Biên phòng trong việc đưa tộc người Đan Lai trở lại với cộng đồng.

Để có bước hồi sinh đến với tộc người Đan Lai máu của người lính Biên phòng đã đổ. Trong một chuyến lên với đồng bào Thiếu úy Trần Hồng Thanh đã hy sinh. Năm 1996 lần đó khi nghe tin dự báo thời tiết có chiều hướng xấu thấy tộc người Đan Lai thường ở bên suối nếu lũ về là gặp nguy hiểm đồn Biên phòng Môn Sơn đã cử đội công tác lên cắm bản để bảo vệ an toàn tính mạng cho đồng bào. Đang trên đường đi chẳng may lũ về sớm Thiếu úy Trần Hồng Thanh đã bị lũ cuốn trôi 3 ngày sau đồng đội mới tìm được xác anh. Rồi cũng một lần khác khi triển khai đội công tác vào bản để nắm tình hình địa bàn 2 chiến sĩ cũng đã hy sinh vì bị nước lũ cuốn trôi.

Sự hy sinh của Thiếu úy Trần Hồng Thanh và người lính Biên phòng đã làm cho tộc người Đan Lai có cái nhìn mới về chính cuộc sống của mình về sự hy sinh của người lính với chính sự tồn tại và phát triển của tộc người mình. Và cũng bắt đầu từ đó tộc người Đan Lai mới tin vào những gì người lính làm tin vào những điều người lính nói. Cũng bắt đầu từ đó tộc người Đan Lai đã không còn dịch cư không còn trốn chạy không còn sống lang thang trong các khe núi thung sâu. Một sự hồi sinh của cả tộc người Đan Lai bắt đầu.

* Những nỗi lo còn đó.

Khi trao đổi cùng Đại tá Trần Minh Công Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Nghệ An về các công việc để đưa tộc người Đan Lai hòa nhập trở lại với cộng đồng. Đại tá Trần Minh Công cho biết. Để bảo tồn và sớm đưa tộc người Đan Lai hòa nhập cộng đồng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Nghệ An đã xây dựng kế hoạch và báo cáo Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Được Bộ Tư lệnh chấp nhận và cho chủ trương chỉ đạo Bộ chỉ huy Biên phòng Nghệ An đã lập 2 tổ công tác mỗi tổ gồm 6 đồng chí lựa chọn những đồng chí có kinh nghiệm dày dạn trong công tác thạo việc làm ruộng dựng nhà. Mỗi tổ còn có một đồng chí quân y giỏi chuyên môn để có thể trực tiếp giúp dân khám chữa bệnh và hướng dẫn dân biết giữ gìn vệ sinh trong ăn ở và sinh hoạt.

Muốn giữ dân trước hết là phải lo cái ăn dân không còn đói. Hiện nay Bộ Tư lệnh Biên phòng hỗ trợ lương thực 1 năm cho các hộ tộc người Đan Lai. Theo chương trình 6 tháng đầu sẽ hỗ trợ mỗi khẩu 7kg gạo để chống đói/tháng còn 6 tháng sau hỗ trợ 3 5kg nhưng tình trạng đói trong dân vẫn chưa được khắc phục triệt để. Khi chúng tôi vào bản được biết. Hiện tại số gạo hỗ trợ của Bộ Tư lệnh Biên phòng đã được trực tiếp các tổ công tác cắm bản cấp đến từng hộ song thói quen uống rượu vẫn chưa được khắc phục. Gạo cấp hỗ trợ chống đói dân vẫn lấy đi đổi rượu để uống. Vì thế mà gạo cấp hỗ trợ chống đói mà dân vẫn đói hoàn đói.

Bên cạnh việc chống đói các tổ công tác cắm bản cũng đã đưa giống lúa mới vào và trực tiếp làm hướng dẫn cho dân biết cách sản xuất. Song hiện nay tất cả vẫn chỉ do người lính làm. Có chuyện. Ngay trước cửa nhà ở của đội công tác có mấy vạt đất. Sau khi anh em trong tổ đã khai hoang làm thành ruộng lúa nước. Mạ đã gieo đất đã cầy bừa chỉ còn mỗi việc cấy cây lúa xuống rồi bón phân khơi nước vào ruộng dân cũng không chịu làm. Có mảnh ruộng thấy đang làm đòng nước cạn ruộng khô nên bị nghẽn đòng không trổ được. Tôi hỏi anh em trong tổ công tác thì mới hay. Ruộng đó là của nhà phó bản Búng. Ruộng này từ cầy cấy gieo mạ đều do anh em trong tổ công tác hướng dẫn và trực tiếp làm. Chỉ còn mỗi việc khơi nước vào ruộng nhưng phó bản cũng không làm. Buộc lòng anh em phải lên tận bản "áp" xuống dí cuốc tận tay thì lúc đó phó bản mới làm. Thói quen trông chờ vào các dự án của người dân là rất nặng nề.

Không những thói quen trông chờ vào dự án mà tình trạng người dân Đan Lai trong canh tác không hề biết bón phân hay chăm sóc. Cũng vì chỉ biết khai thác mà không được thường xuyên cung cấp các loại phân hữu cơ nên chất đất ở đây gần như bạc mầu đến mức hoang hóa trở lại. Xục tay xuống ruộng lúa tôi chỉ thấy một lớp đất rất mỏng mềm mềm trên mặt còn phía dưới đất rất rắn. Cây lúa không thể nào cắm rễ xuống được. Lại còn có chuyện. Anh em trong tổ công tác cử người về dưới xuôi lấy giống lúa nhưng dân cứ nhất quyết trồng giống lúa cũ đã bị lại giống. Nếu cứ yêu cầu làm giống lúa mới là cả bản "dọa" sẽ bỏ đi. Thế là anh em lại đành phải làm để cho dân có "cái đối chứng" rồi làm theo. Tất nhiên chuyện đưa giống lúa mới vào cũng đã có chuyện xảy ra. Ấy là khi phòng nông nghiệp huyện Con Cuông đưa giống lúa mới nhưng vì giống lúa đó không chịu được sâu rầy nên khi cây lúa lên cao thì bị sâu hại chết hết. Sau đận đó dân cứ gieo giống lúa "xưa" cho chắc.

Không chỉ chuyện canh tác tộc người Đan Lai hiện tại còn rất nặng tục tảo hôn. Con gái tộc người Đan Lai 13 tuổi mà chưa lấy chồng coi như "ế". Và đặc biệt tộc người Đan Lai chỉ lấy người trong tộc người mình nên hôn nhân cận huyết thống đã và đang diễn ra tại đây. Theo tục người Đan Lai chỉ cần khác họ là có thể lấy nhau. Thực ra họ Lê và họ La cũng chỉ là từ một gốc mà ra. Cũng chính vì tình trạng này mà chuyện con anh trai lấy con em gái là thường. Vì hôn nhân cận huyết thống nên hầu như trẻ em ở tộc người Đan Lai thường yếu và thiểu năng trí tuệ. Khi chúng tôi trao đổi với các thầy cô giáo ở điểm trường tiểu học bản Búng thì mới biết. Do tình trạng hôn nhân cận huyết thống khả năng tư duy cũng như lĩnh hội kiến thức của học sinh tộc người Đan Lai rất khó khăn. Khi tôi hỏi chị Lê Thị Duyên người đã học hết lớp 5 rằng bây giờ có thể đọc được báo không? Chị Duyên không trả lời chỉ cười. Ngay các thày cô dạy ở đây cũng cho biết: Chỉ mong các cháu ở đây đọc được đếm được cộng trừ được đã là mừng lắm rồi. Do đời sống quá khó khăn nên sau khi học chỉ vài ba năm hiện tượng mù chữ trở lại là phổ biến.

Hiện tại Chính phủ đã có chương trình tái định cư cho người Đan Lai về sau để bảo tồn và ổn định cuộc sống. Nhưng số hộ đã được chuyển về 2 bản tái định cư vẫn tìm đường để trở lại vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát. Việc dân tìm cách trở lại nơi ở cũ không phải chỉ do thói quen sinh hoạt và tập tục kéo dài bốn năm trăm năm nay mà do các dự án. Các hộ ở vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát được hưởng lợi từ các dự án là tương đối nhiều. Chính các dự án đầu tư đã tạo cho tộc người Đan Lai tính toán thiệt hơn. Vì thế khi tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng nói chuyện tái định cư già bản Lê Văn Khai nói chắc như dao chém đá: Ai đi thì đi chứ già không "chạy" nữa đâu.

Để đưa dân hòa nhập về lại cộng đồng các tổ công tác đã tìm nhiều biện pháp nhưng xem ra đâu vẫn đóng đó. Trước mắt để dân không đói theo anh Trần Minh Công Bộ chỉ huy Biên phòng Nghệ An có chủ trương sẽ cấp gạo từng bữa cho dân thông qua các tổ công tác cắm bản để khắc phục tình trạng gạo hỗ trợ cho dân đem đổi lấy rượu uống. Khi lo xong cái ăn sẽ tập trung mua sắm phương tiện cho dân sản xuất. Hiện tại ngoài cái dao cái cuốc các phương tiện sản xuất khác không có. Khi dân biết canh tác trở lại anh em sẽ tập trung cung cấp cây con giống. Theo chỗ chúng tôi được biết. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh có cấp cho mỗi bản Búng và Cò Pạt 5 con bò. Để có thể nhân rộng được đàn bò anh em phải cho nuôi tập trung vì sợ phân theo hộ khi đói lại "ăn" hết cả giống như cây khoai.

Song song với chuyện lo ăn lo làm anh Công cũng cho biết thêm là sẽ tập trung vận động các gia đình cho con theo học các lớp trên để tạo "nguồn" sau này cho các bản. Hiện tại đã có một gia đình gửi con đi học trường thiếu sinh quân và một người đã được cử đi học ở trường lâm nghiệp. Anh Công nói hình ảnh: Đây sẽ là cái rễ để bám được vào đất rừng Pù Mát cho mai sau.

* Thay lời kết.

 Hiện nay Nhà nước đã đầu tư 118 tỷ để mở đường đến bản Cò Pạt. Đây chính là "cơ hội" để tộc người Đan Lai hòa nhập với cộng đồng nhanh hơn. Vì hiện tại muốn vào được đây chỉ có con đường duy nhất là ngược 47 thác sông Giăng. Mà vào được đây cũng phải lựa khi thời tiết thuận lợi còn nếu không chuyện lũ cuốn trôi thác lật phương tiện dễ như trở bàn tay. Khi trao đổi với Đại tá Trần Văn Túy Chính ủy Bộ đội Biên phòng Nghệ An về các chương trình hòa nhập cộng đồng cho tộc người Đan Lai. Anh Túy khẳng định: Khó khăn còn nhiều vất vả còn nhiều song được sự quan tâm của các ban ngành từ Trung ương đến địa phương nhất là được sự quan tâm của Bộ Tư lệnh Biên phòng việc bảo tồn tộc người Đan Lai sẽ nhất định thành công.

Vâng. Tôi rất mong như thế. Dẫu biết rằng để hồi sinh một tộc người để đưa một tộc người đã "tự quên lãng" hàng mấy trăm năm như tộc người Đan Lai trở lại với cộng đồng là cả quá trình mà không những chỉ mồ hôi mà thậm chí máu của các anh sẽ còn phải đổ.

Cái giá của sự hồi sinh bao giờ cũng thật lớn./.

Phạm Thanh Khương

Thinguyen81.
Bất cứ cái gì đã phải hồi sinh đều phải trả giá cả mà. Sau mùa đông cây trút lá để cho mùa xuân đâm chồi nẩy nụ cũng đã phải "rứt ruột trút là đó thôi. Phải thế không cháu. Hì hì.
Chúc cháu khỏe vui.

Thynguyen81

Cháu đến thăm chú PTK!

"Cái giá của sự hồi sinh bao giờ cũng thật lớn./."
Vấn đề nằm ở đây chú nhỉ!
TN kính chúc chú mạnh khỏe.