CON ĐƯỜNG TRỞ LẠI LOÀI NGƯỜI...

BÀI 2: LAM LŨ MỘT KIẾP NGƯỜI 

Nhà thơ Đỗ Hoàng đang tìm đường vượt sông Giăng

           Trong vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát hiện còn có 2 bản tộc người Đan Lai. Bản Búng có 87 hộ với 436 khẩu. Bản Cò Pạt có 76 hộ với 381 khẩu. Cuộc sống của người Đan Lai ở đây hiện nay sống chủ yếu dựa vào nguồn tài trợ từ các dự án. Ngoài nguồn các dự án người Đan Lai sống dựa vào rừng. Gần như số phận người Đan Lai hoàn toàn phó thác cho tự nhiên. Một cuộc sống còn nặng dấu vết của sự sơ khai và hoang dã.

* Những tập tục có một không hai.

Thực ra khi vào đến tận cùng của vùng đất có người Đan Lai ở sống cùng với người dân tôi không thể tưởng tưởng được cuộc sống của tộc người Đan Lai như hiện tại. Khi loài người chỉ cần cái nháy chuột đã sống trong một "thế giới phẳng" mà vẫn còn một tộc người sống sơ khai và hoang dã đến thế.

Trước khi vào với tộc người Đan Lai tôi cũng có được nghe đôi ba chuyện như người Đan Lai ngủ ngồi ngủ trên cây khi sinh con đưa ra suối "ném" xuống nước ba lần. Thực ra những câu chuyện trên chỉ là sự "tưởng tượng phong phú" của một vài người "vẽ" nên mà thôi.

Quả thực người Đan Lai có tục ngủ ngồi. Lý giải cho tục ngủ ngồi này trưởng bản Búng Lê Văn Khai tình thực. Ngày xưa lâu rồi khi người Đan Lai bỏ trốn vào rừng ở trong hang trong hốc. Rừng thì lạnh sương thì nhiều giường chiếu áo quần chăn màn không có. Để có thể ngủ được người Đan Lai kiếm củi trong rừng về đốt lửa rồi ngồi quây tụ xung quanh cho đỡ lạnh. Vì nằm thì đá lạnh nên phải ngồi. Khi ngồi ngủ lâu lưng mỏi có một số người đã ngã sấp mặt vào đống lửa. Để khắc phục tình trạng trên người Đan Lai đã có "sáng kiến" khi ngủ chặt cái chạc ba mà cái này thì rất dễ kiếm được trong rừng quanh nhà chống dưới cằm để khi ngồi ngủ nếu có ngã thì cũng không bị ngã vào đống lửa. Cũng bắt đầu từ đó tục ngủ ngồi chống chạc ba dưới cằm trở thành tập tục trong đời sống của người Đan Lai. Ngay bây giờ với những người già tục ngủ ngồi chống chạc ba dưới cằm vẫn còn được duy trì. Theo Đại úy Võ Văn Quỳnh Tổ trưởng Tổ công tác Biên phòng tại bản Búng thì vì quen với việc ngủ ngồi cả một đời người nên bây giờ nếu ngủ nằm như các dân tộc khác người già không ngủ được. Và một điều nữa nếu người già nằm ngủ vì gầy yếu xương khớp tiếp xúc trực tiếp với sàn với gỗ đau nên "đành" phải giữ tục xưa khi ngủ.

Những năm tháng trước đây khi chưa có Bộ đội Biên phòng vào giúp chuyện sinh đẻ của người Đan Lai cũng là một vấn đề. Khi sinh con người Đan Lai đem ra suối tắm như cách người các dân tộc khác vẫn làm chỉ có cái khác là tắm trong nhà và tắm nước ấm. Tôi cũng có hỏi chị Lê Thị Duyên người bản Búng chuyện này. Chị Duyên năm nay mới có 25 tuổi nhưng đã có 3 con. Chị Duyên lấy chồng từ khi 13 tuổi. Chị Duyên bảo. Thấy mấy đứa nó lấy chồng. Hôm đi thi nó (ý nói chồng) đưa đi thi xong thì cưới. Khi hỏi. Có hay không chuyện khi sinh xong người Đan Lai đem trẻ ra suối tắm? Chị Duyên trả lời rất hồn nhiên. Có chứ. Phải tắm chứ. Sống ở rừng đứa nào khỏe thì sống. Đứa nào chết thì thôi. Con đẻ ra được mà. Tôi lại hỏi. Bây giờ khi đẻ con người Đan Lai còn làm thế không? Chị Duyên cười trả lời gần như phản xạ tự nhiên không cần nghĩ gì: Bộ đội Biên phòng bảo rồi. Không tắm suối nhưng vẫn tắm ở nhà. Thế tắm nước gì? Còn tắm nước suối không? Chị Duyên lại nói gần như không cần nghĩ. Tắm nước suối thôi.  

Có vợ chồng La Văn Sinh cũng người bản Búng ngồi đó. Vợ chồng La Văn Sinh năm nay cũng mới có 24 tuổi nhưng đã "kịp" có 2 con. Như để khẳng định việc chị Duyên nói vợ chồng La Văn Sinh góp chuyện: Ở rừng muốn sống được phải khỏe chứ. Nếu không khỏe thì cũng chết thôi. Lúc đó chết lại thành con ma sợ lắm.

Lý giải về việc này Trần Đức Lưu Thiếu tá Bác sĩ của Tổ công tác Biên phòng cắm bản cho biết. Do sống quá lâu trong môi trường rừng núi tách biệt với cộng đồng con người. Việc sống chết bệnh tật đều hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Những tập tục trên như một sự chọn lọc của tự nhiên vậy. Để có thể tồn tại được trong môi trường cuộc sống khó khăn đói khổ người Đan Lai chỉ còn biết dựa vào chính khả năng đề kháng và thích nghi của mỗi cá thể trong cộng đồng. Rồi như một sự chia sẻ anh Lưu bảo: Rất may trong suốt bao năm qua tộc người Đan Lai không có dịch bệnh. Nếu có dịch bệnh chắc chả còn được số dân như hiện nay. Điều anh Lưu nói là hoàn toàn chính xác. Những năm tháng đã qua nếu chẳng may tộc người Đan Lai chỉ cần "dính" một dịch bệnh nào đó không biết điều gì đã xảy ra.

* Chuyện "thường ngày" ở bản.

Sống trong rừng sâu chỉ có núi và rừng đất canh tác chủ yếu là đất nương cũng rất ít. Hiện nay cả bản Búng có 87 hộ 436 khẩu song diện tích đất canh tác cũng chỉ có chưa đầy 10ha. Cộng thêm vào những khó khăn về đất canh tác là giống lúa. Cũng trải qua hàng trăm năm nay vẫn giống lúa cũ nên hiện tượng "lại giống" năng xuất rất thấp. Nguồn lương thực chính của đồng bào là sắn. Ngô cũng chỉ trồng được rất ít. Khi vào nhà trưởng bản Lê Văn Khai tôi thấy cũng chỉ có khoảng 15 đến 20 bắp ngô treo trên gác bếp để làm giống. Người Đan Lai cũng có trồng kê song cũng như ngô. Chủ yếu là trồng xem vào nương sắn nên năng xuất cũng rất thấp. Riêng khoai người Đan Lai không trồng. Việc canh tác của tộc người Đan Lai dựa 100% vào tự nhiên.

Tôi có hỏi trưởng bản Lê Văn Khai. Tại sao có đất lại không trồng ngô mà chủ yếu trồng sắn? Trưởng bản cười trần tình. Trồng cây sắn lũ trẻ không ăn sống được. Trồng ngô khi mới có bắp chúng đã bẻ về luộc ăn rồi. Ngay cây khoai cũng thế. Trước đây người Đan Lai cũng có trồng khoai nhưng khi cây khoai vừa mới lên các gia đình đã hái ngọn lá về ăn nếu có được củ mới chỉ bằng ngón tay lũ trẻ đã bới lên ăn sống. Thế là cái đói cuốn hết cả giống khoai.

Đại úy Võ Văn Quỳnh có kể. Ngày đầu tiên khi anh em vào cắm bản. Thổi đến ba lần cơm mới được ăn. Khi anh em thổi cơm các cháu nhỏ trong bản kéo đến đứng quây bốn xung quanh. Thế là anh em nhường cho các cháu ăn trước. Thổi lần hai thấy các cháu còn đói anh em lại nhường cho các cháu ăn tiếp. Khi các cháu đã được ăn no bỏ đi chơi anh em mới thổi tiếp lần thứ ba để lấy cơm ăn. Mà cơm của tổ công tác cũng chỉ có rau rừng và cá khô.

Có một chuyện mà khi nghe xong lòng tôi cứ xót xa không nói nên lời. Câu chuyện thật buồn và thật khổ. Ngày đầu khi anh em tổ công tác vào cắm bản. Quá trưa có mấy người phụ nữ ôm một ôm to cành sung và cành ổi vào xin bát muối. Tưởng bà con xin làm gì nên anh em lấy ra bát muối to. Ai ngờ. Mấy người phụ nữ đó vặt lá sung lá ổi chấm muối để ăn cho đỡ đói.

Khi tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng ngồi nói chuyện với mấy thầy cô dạy ở điểm trường bản Búng thuộc Trường Tiểu học cơ sở 3 Môn Sơn. Thấy có cây sung to cỡ ba bốn người ôm không hết gốc. Nghĩ cây sung to thế gặp bão gió lốc lũ chẳng may bị gãy rơi đổ xuống lớp học thì nguy hiểm. Thày Phan Anh Thống người có thâm niên lâu nhất dạy học ở đây bảo: Nguồn sống của người dân và trẻ con cũng như của các thầy cô giáo ở đây đấy. Tìm hiểu kỹ mới biết. Khi đói thậm chí trong giờ ra chơi hay trước khi chào cờ các cháu học sinh lại leo lên cây sung đó hái quả để ăn. Còn các thầy cô giáo lấy lá để muối dưa thay cho rau xanh. Nghe chuyện tôi vỡ ra tại sao dọc bờ sông Giăng có rất nhiều cây sung to cỡ vài ba đến hàng trăm năm tuổi lá cứ xanh rờ rỡ. Những cây ổi mọc hoang dại hai bên bờ trên sườn dốc ngay cạnh lối đi không có ai chặt gốc hay có cành cây gãy.

Khi ngồi trao đổi với anh em cán bộ Biên phòng trong tổ công tác cắm bản. Tôi được biết thêm. Khoảng chục năm trước đây có phong trào thu mua song mây nên đời sống bà con có đỡ hơn. Bây giờ song mây cũng đã vãn người dân chủ yếu dựa vào nguồn thu hoạch từ măng. Khi chúng tôi vào bản đang là mùa măng nứa rộ lên. Cả bản đi vào rừng lấy măng. Sáng vợ chồng đưa nhau vào rừng đào măng đến lưng lửng chiều về. Mỗi ngày như thế thu được khoảng 7 đến 8kg măng tươi. Sau khi chế biến còn được hơn 2kg măng khô. Mỗi cân măng khô hiện thời giá bán được khoảng 40.000 đồng. Tôi có hỏi thời gian khai thác măng nứa. Mọi người nói cũng chỉ rộ lên được 1 đến 2 tuần là hết. Giống măng mọc nhanh nên khi cây măng cao là không thể khai thác được nữa. Lúc đó lấy về măng rất đắng không thể ăn được. Tiền kiếm được từ bán măng người Đan Lai lại dồn hết vào mua rượu. Một đám cưới người Đan Lai có thể kéo dài đến 20 ngày. Trong 20 ngày đó thức ăn chủ yếu là trái cây và rau xanh và ... uống rượu. Tục uống rượu "liền tù tì" vài ba ngày thậm chí cả tuần cả tháng của người Đan Lai cũng vì sống trong rừng lạnh uống rượu cho "nóng" người. Và nếu không uống rượu người Đan Lai cũng chả có lấy cái gì để vui chơi giải trí cả.

Buổi tối khi tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng cùng anh em trong tổ công tác đang ngồi ăn cơm thì có 2 người thanh niên ở bản Búng lên. Vừa nhìn thấy 2 thanh niên Võ Văn Quỳnh đã nói ngay: Có chuyện gì nói đi còn để giải quyết. Hai thanh niên nói tiếng dân tộc và lại nói nhỏ nên tôi không nghe được. Hỏi lại anh Trần Đức Lưu. Anh Lưu "phiên dịch" lại. Một người là con một người là cháu. Nói là mẹ bà của họ uống rượu ba ngày hôm nay. Hiện giờ sắp chết. Tay chân co quắp lại rồi. Vừa bưng bát cơm anh Lưu vội buông bát buông đũa. Khoác chiếc túi quân y lên vai. Tối đó tôi thức đợi cho đến khi Lưu từ bản về. Lưu nói lại. Ở bản bà Lê Thị Minh không có cái ăn đói quá uống rượu 3 ngày liên tục bị hạ đường huyết. Khi Lưu xuống đến bản bà Minh đã dãn đồng tử chân tay co giật bắt "chuồn chuồn". Sau khi tiêm cho bà Minh mũi can xi truyền huyết thanh bà Minh đã dần dần hồi tỉnh. Anh Lưu cho biết thêm. Ở bản Búng còn có trường hợp uống rượu say chửi con nhiều đến mức căng cơ mặt co kéo dãn cơ sái quai hàm cơ năng. Hoặc cũng uống rượu say chả biết đứng nằm thế nào mà để cho ốc sên chui cả vào hậu môn. Ở với dân đã lâu gặp những chuyện như trên cũng nhiều nên Trần Đức Lưu bảo: Chuyện thường ngày ở bản Búng mà anh.