CON ĐƯỜNG TRỞ LẠI LOÀI NGƯỜI...

CON ĐƯỜNG TRỞ LẠI LOÀI NGƯỜI CỦA TỘC NGƯỜI ĐAN LAI Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN

Lù Pò Khương

Nghe thông tin ở giữa vùng lõi rừng quốc gia Pù Mát phía Tây Nghệ An  còn có một tộc người ở thời đại "nháy chuột" mà vẫn "săn bắt hái lượm" vẫn "ăn sống ở hang" như  thuở tổ tiên loài người xa xưa. Tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng làm chuyến ngược 47 thác lên thượng nguồn sông Giăng tìm về nơi sinh sống của tộc người này. Họ là tộc người Đan Lai một tộc người "tắc giăng" của thời hiện đại. Một quá trình tiến hóa ...  ngược với lịch sử tiến hóa của con người.

BÀI 1. QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA ...NGƯỢC

*Từ truyền thuyết ... buồn ...

Cho đến bây giờ ít ai biết được câu chuyện này có từ bao giờ và có từ thời kỳ nào chỉ nghe truyền lại hình như vào cuối đời hậu Lê. Ngay người kể chuyện già bản Lê Văn Khai ở bản Búng xã Môn Sơn cái bản nằm sát chân núi đầu nguồn sông Giăng cũng chỉ biết rằng đã lâu lắm rồi từ ngày xửa ngày xưa ở một làng nọ bên bờ sông Giăng thuộc huyện Thanh Chương có một làng trù phú và giầu có. Thế rồi một ngày kia có chiếu vua ban sức về làng. Trong chiếu vua bắt dân làng trong vòng mười ngày phải nộp cho triều đình một trăm cây nứa vàng và con thuyền liền chèo.

Nhận chiếu vua sức về già làng cho tập trung già trẻ trai gái nam phụ lão ấu để bàn cách thực hiện ý chỉ. Sau khi nghe già làng đọc chiếu vua sức về mọi người nhìn nhau ngơ ngác. Bao năm qua trời cho mưa thuận gió hòa đất thương người cho mầu mỡ tốt tươi con người biết tảo tần lam lũ làm lụng chịu thương chịu khó nên cuộc sống khá giả. Nhưng lấy đâu ra đủ vàng mà làm cả trăm cây nứa nộp vua. Và chiếc thuyền liền chèo nữa. Ngày đó chỉ có thuyền độc mộc. Tìm đâu cho được cái cây to tới vài ba chục người ôm để làm cho được chiếc thuyền như ý vua ban.

Những ánh mắt lo lắng nhìn già làng chờ đợi. Ý vua đã rõ làm thì không thể được mà ở lại thì phạm tội khi quân chắc cả làng sẽ bị chém đầu. Thế là cả làng ngay đêm hôm đó dọn dẹp tất cả tài sản cái gì mang đi được thì mang theo còn không bỏ lại bồng bế con cháu trốn. Cứ men theo bờ sông Giăng mà đi. Hiềm nỗi đất nơi nào cũng đã có chủ. Hết vùng đất của người Kinh thì đến vùng đất người Thái. Cứ đi mãi đi mãi đi vào tận đầu nguồn sông Giăng mới dừng chân. Suốt dọc trên hàng trình tìm đất ở người già và trẻ em của làng bị đói nước lũ thú rừng nước độc cũng đã chết vợi. Khi dừng chân già làng nhìn lại số dân làng cũng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.

Sức đã kiệt người đã vợi dân làng tìm được chiếc hang liền lấy đó làm nhà. Những ngày đầu để kiếm cái ăn người còn khỏe vào rừng hái lượm hoa trái quả cây lá sung búp ổi đào củ măng củ mài để dân làng sống qua ngày. Phương tiện canh tác không có chỉ biết vào rừng săn bắt hái lượm để tồn tại. Cứ thế trải qua mấy trăm năm sống tách biệt hoàn toàn với thế giới con người dân làng quên dần tiếng nói quên dần chữ viết quên dần cách canh tác quên tất cả các nét văn hóa và trở thành tộc người Đan Lai trở lại cuộc sống thời hồng hoang nguyên sơ của tổ tiên loài người.

Khi gặp già làng Lê Văn Khai ở đầu bản Búng đưa tay bắt. Bàn tay già làng dày rộp những chai. Tôi cố tình cầm tay già làng thật lâu rồi từ từ kéo trượt bàn tay tôi về phía đầu các ngón tay của già làng. Cả bàn tay già làng từ cổ tay đến lòng bàn tay và các ngón da tay đều phủ một lớp chai dày mờ mờ xam xám vàng.

Ngoài truyền thuyết trên tôi còn được nghe chính già làng Lê Văn Khai kể cho nghe về một truyền thuyết khác. Ngày đó cũng cách đây lâu lắm rồi dân làng ở huyện Thanh Chương Nghệ An sống bên bờ con sông Giăng. Trong làng có hai dòng họ Nguyễn và Lê. Dòng họ Nguyễn có nhiều người học hành đỗ đạt làm quan trong triều. Dòng họ Lê ít học chủ yếu chỉ biết cấy cầy làm ruộng. Thế rồi do mâu thuẫn giữa hai dòng họ dòng họ Nguyễn muốn đẩy dòng họ Lê ra khỏi vùng đất đang sinh sống. Lợi dụng vào vị trí làm quan lại biết chữ những người họ Nguyễn thảo ra một bản yêu cầu họ Lê phải làm trăm cây nứa vàng và chiếc thuyền liền chèo nộp cho vua trong vòng bẩy ngày. Do dòng họ Lê ít học khi nhận được tờ giấy trên nghĩ là ý chỉ của nhà vua và cũng không luận ra được cách  làm. Sợ phạm tội khi quân phải chịu chết cả dòng họ. Dòng họ Lê đã lợi dụng đêm tối rủ nhau trốn vào rừng sâu. Dựa vào rừng vào núi săn bắt hái lượm để tồn tại người họ Lê sống tách biệt với xã hội loài người mà đã trở thành một tộc người Đan Lai như hiện nay. Khi kể về "lịch sử" tộc người của mình già làng Lê Văn Khai than thở: Chỉ vì người họ Lê ít được học quá mà nên thế này. 

Còn một truyền thuyết nữa về tộc người Đan Lai cũng đẫm ... nước mắt mà những người dân vùng núi miền Tây Nghệ An kể lại. Rằng cũng từ xưa xửa xừa xưa ở một làng ven sông Giăng có một làng rất trù phú ruộng mật bờ xôi. Thế rồi một năm nọ trời làm trận đại hồng thủy. Cả làng người chết thành đống xác người trôi dọc theo sông. Bầy quạ bay che kín cả trời. Đêm đêm ngày ngày tiếng kêu cứu tiếng than khóc của oan hồn những người chết tức tưởi lúc nào cũng vảng vất nơi xó bếp góc nhà nơi mảnh vườn ruộng lúa. Sau đận đại hồng thủy dân làng lại bị trận đại dịch số người chết như ngả rạ đất làng thành bãi chôn người. Làng xóm tiêu điều xơ xác. Trời không cho ở đất không cho sống mảnh đất làng trù phú như có ma ám quỷ rình. Dân làng đùm úm kéo nhau đi tìm nơi đất mới. Đi đến đâu đất cũng đã có chủ. Cứ thế dọc theo bờ sông Giăng dân làng lên mãi miền sơn cùng thủy tận sinh sống. Sống tách biệt với thế giới con người các tập tục thói quen xưa dần mai một rồi trôi vào quên lãng. Cứ thế dân làng trở thành một tộc người Đan Lai như ngày nay mà các nhà dân tộc học xếp trong nhóm dân tộc Thổ trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Việt Nam.

•·        Đến "không" ... bản sắc.

Tổ trưởng Tổ công tác Biên phòng bản Búng Võ Văn Quỳnh khẳng định. Tộc người Đan Lai gần như không có một chút gì gọi là bản sắc riêng. Lý do tộc người Đan Lai không có bản sắc riêng được Võ Văn Quỳnh và anh em trong tổ công tác lý giải. Sau những ngày dài chạy trốn sống cô lập hoàn toàn với thế giới con người ngôn ngữ tiếng nói cũng ít được sử dụng vì cả ngày phải vào rừng kiếm sống vì thế mà mai một dần. Những từ nào còn nhớ được thì do ngữ điệu khi phát âm của người dân xứ Nghệ cũng bị biến thể. Ngay như bây giờ cả tộc người Đan Lai chỉ có hai dòng họ chính là Lê và La. Họ La cũng chính là do sự biến âm của từ Lê mà thành. Về sau trong quá trình giao lưu người Đan Lai "mượn" ngôn ngữ của người Thái người Lào cộng thêm với chút từ ngữ của người Kinh khi xưa còn lại và những âm lóng của 3 dân tộc này thành ngôn ngữ của mình. Tiếng nói của người Đan Lai chính là sự pha tạp của cả ba dân tộc này. Ngay chữ viết tộc người Đan Lai cũng không có chữ viết riêng.

Không những tiếng nói chữ viết mà ngay các phong tục lối sống của người Đan Lai cũng gần như không có nét riêng nó cũng là sự pha tạp của người Thái người Lào. Các phong tục như chôn cất cúng giỗ người chết cũng không có. Khi đem người chết đi chôn người Đan Lai chủ yếu cuốn chiếu. Nhà nào có chút "máu mặt" thì chặt cây nứa cây dang hay cây tre rồi đem chẻ ra đan lại thành tấm phên cuốn lại bó chiếu ra bên ngoài. Bản ở bên này suối thì người chết phải được chôn bên kia suối. Huyệt chôn cũng chỉ đào rất nông rồi đưa người chết ra đó thả xuống lỗ san phẳng. Xong nhặt hòn đá ném lên đó làm dấu. Việc ném hòn đá đánh dấu cũng là để người sống biết đó là "rừng ma" không vào. Ném hòn đá lên phần đất vừa san phẳng người làng phải chạy thật nhanh để ra khỏi chỗ đó. Khi chạy về đến bản nhà có người chết phải dỡ nhà để làm lại. Người Đan Lai cho rằng người chết biến thành con ma. Chôn xong phải chạy để trốn ma. Chuyện dỡ nhà làm lại là để con ma không còn nhận ra nơi trước đây đã ở. Kiếp người ở đây cũng chỉ có thế. Khi chôn xuống đất con cháu không còn cúng giỗ để tưởng nhớ tiền nhân. Phong tục này cũng được người Đan Lai "vay mượn" từ phong tục của người Thái mà có.

Ngồi nói chuyện với già làng tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng có nói già làng hát cho nghe một bài hát của tộc người Đan Lai. Già làng trầm ngâm một lúc rồi hát. Già cũng chỉ hát được đôi ba câu rồi thôi. Hỏi ra mới biết đó là bài hát của người Lào và ngôn ngữ cũng là của người Lào. Già làng Lê Văn Khai cười: Già không nhớ được đâu. Già chỉ nhớ được có bấy nhiêu thôi. Hỏi thêm về lễ hội hay trang phục già cũng chỉ nói đi nói lại một câu: Buồn lắm. Người Đan Lai không có đâu. Chỉ nghe dân tộc khác hát rồi mình hát theo làm theo.

Vì sao tộc người Đan Lai nguyên gốc là người Kinh mà không có bản sắc văn hóa riêng? Tôi được anh em trong tổ công tác biên phòng lý giải. Việc tộc người Đan Lai không có bản sắc riêng là do trong quá trình trốn chạy người Đan Lai cố tình xóa dấu vết để nếu có quân binh đuổi theo thì cũng không phát hiện được ra họ. Và cũng do sống tách biệt hoàn toàn với xã hội con người quá lâu việc kiếm sống trên rừng quá khó khăn nên người Đan Lai không còn thời gian và điều kiện để giữ lại được những nét bản sắc văn hóa như đã có. Ngay tên tộc người Đan Lai cũng đã nói lên điều đó. Tộc người Đan Lai nghĩa là đan xen và lai tạp.

Khi nói chuyện với khách già làng Lê Văn Khai rất hay thở dài. Tiếng thở dài cứ vuốt mãi về sau. Tiếng thở dài của cả tộc người đã qua mấy trăm năm khi dân làng đưa nhau vào nơi sơn thâm cùng cốc miền Tây Nghệ An để tồn tại. Tôi và nhà thơ Đỗ Hoàng gợi ý. Nếu Nhà nước có chủ trương đưa người Đan Lai tái định cư không ở trong vùng lõi của rừng quốc gia Pù Mát thì già nghĩ thế nào? Già làng Lê Văn Khai nói "chắc như đinh": Già và mọi người không chạy nữa đâu. Nghe già làng nói mới biết. Sự ám ảnh về chuyến "di làng" đầy đau khổ và tủi cực từ ngày xưa vẫn còn hằn sâu trong tâm trí của người Đan Lai. Cái quá trình đã làm cho người Đan Lai từ người biết trồng cấy văn minh trở lại kiếp người của thuở hồng hoang nguyên thủy một quá trình tiến hóa ngược của con người đầy đau buồn và cơ cực.

Phạm Thanh Khương

Vũ Thu Huế.
Đan Lai đấy. Chắc mắt kém nên chữ tác đánh thành chữ tộ. Thanh kiu đã nói cho biết chỗ sai sót đó. Hì hì.

vũ thu huế

Tổ trưởng Tổ công tác Biên phòng bản Búng Võ Văn Quỳnh khẳng định. Tộc người Đan Lại gần như không có một chút gì gọi là bản sắc riêng. Lý do tộc người Đan Lai không có bản sắc riêng được Võ Văn Quỳnh và anh em trong tổ công tác lý giải.
chỗ thì đan lại chỗ đan lai. vậy rốt cuộc là đan lai hay đan lại ạ.
-anh để chế độ kiểm duyệt em ghi 1 lúc mấy cái còm cái nào ko ưng anh bỏ đi nhé.