CON CHỮ NEO BÊN BỜ CHÂN SÓNG

CON CHỮ NEO BÊN BỜ CHÂN SÓNG
Bút ký

Đại uý Đào Đình Luyện cán bộ vận động quần chúng đồn Biên phòng Cửa Lân và thầy Trần Thanh Phúc giáo viên lớp xoá mù chữ làng chài cửa sông Ba Lạt Thái Bình đón tôi bên bờ chân sóng nơi tận cùng mép nước Cồn Vành. Mấy năm trước khi tôi về viết bài các tỷ phú nuôi ngao ở đây chỗ Luyện đón tôi vẫn còn đang là ngoài biển. Ngày đó Cồn Vành trông chẳng khác gì quả trứng bệp bềnh trên mặt sóng. Nhanh thật. Quay đi quay lại phù sa cửa sông Ba Lạt đã kịp bồi đắp kéo tuột cả Cồn Vành dính đét vào đất liền. Khi đó nghe dự án làm đường ra Cồn Vành không mấy ai dám tin. Ấy thế mà cái khó tin ngày nào nay thành sự thật nó neo giữ con người ở lại biển cả. Cái neo giữ đời người không gì bằng đời sống vật chất. Chỉ có điều ngay bên vùng nuôi ngao nuôi tôm ngay sát xã có tới cả chục tỷ phú trong tay nắm cả bọc tiền két lớn két bé lại ở ngay vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi vựa lúa của cả nước vẫn còn một vạn chài mà cái chữ o tròn như quả trứng gà giống như cái cồn nổi quanh năm suốt tháng bám vào nó mà sống mà tồn tại cũng không biết.

Thấy tôi nóng ruột muốn được xuống lớp xoá mù chữ của vạn chài cửa sông Ba Lạt Luyện thủng thẳng: Anh cứ yên tâm. Bây giờ mới là lúc nước xuống. Bà con bây giờ mới từ ngoài khơi về. Nhanh ba mươi phút chậm thì một tiếng. Rồi còn phải nấu ăn cơm cơm nước nước vài ba chục phút nữa mới có thể lên lớp được. Nhìn bóng điện vàng vàng chỉ đủ cho con người ngồi bên chén trà tán gẫu cộng thời gian của Luyện nói thì có mà nửa đêm. Lúc đó còn học hành cái nỗi gì. Lúc đó có chăng mấy cặp vợ chồng trẻ vạn chài lục đục mắc màn đi ngủ. Chắc Luyện đọc được cái lo lắng của tôi nên chỉ cười rồi chỉ tay vào cái đèn măng xông đặt trên bàn phía góc phòng. Lặng lẽ đi lại chỗ tủ gỗ cá nhân cái loại tủ mà trong quân đội thường trang cấp cho sĩ quan để quân trang và đồ dùng cá nhân.  Luyện mở khoá. Xong quay ra gọi người đi vào trong xóm mua kẹo. Vẫn cái giọng thủng thà thủng thỉnh Luyện bảo: Biết làm sao được. Mình muốn dân học nhưng dân chưa sắp xếp được lịch thì chờ. Chờ đến nửa đêm mà dân học được cũng lên lớp. Dân đến lớp học là mừng rồi. Mừng hơn mẹ về chợ chứ anh tưởng à. Luyện nhìn sang tôi động viên: Anh cứ cố gắng chờ đi. Anh em vừa chạy vào xóm đi mua kẹo. Kẹo chưa về thì chưa thể lên lớp được.

Trong lúc chờ đợi bà con vạn chài đến lớp bên bát chè xanh Luyện và thầy giáo Trần Thanh Phúc kể cho nghe chuyện dạy chữ. Mà không đúng hơn là chuyện đi gieo cái chữ như người ta đi gieo quả sú cây bần để giữ sa và chống sóng chống bão. Ấy là cái sự ra đời của lớp học xoá mù chữ có lẽ là duy nhất ở nơi vựa lúa nơi được cho là có trình độ dân trí cao của cả nước.

Lần đó chị Nguyễn Thị Khuyến có việc phải lên thành phố Thái Bình. Dậy từ sớm đi bộ ra bến xe huyện. Vì chỉ có một tuyến duy nhất là Tiền Hải đi Thái Bình nên mua vé xong chị Khuyến lên xe. Đi từ bến đầu đến bến cuối nên chẳng có chuyện gì phải lo lắng xẩy ra. Mua sắm xong theo trí nhớ chị lần ngược các con phố trở lại bến xe tỉnh. Vì không biết chữ nhìn quanh bến thấy có rất nhiều xe và toàn người lạ ai cũng ăn mặc sạch sẽ tươm tất. Phần vì ngại phần vì xấu hổ chị không dám hỏi nên cứ thấy xe ô tô nào đậu gần chỗ đứng là lên. Chị nghĩ chắc xe nào rồi cũng chạy về Tiền Hải. Khi xe về bến trả khách chị Khuyến thấy không giống cái bến lúc sáng lạ hoắc. Loanh quanh mãi mà không biết đi đường nào để về. Đánh liều hỏi mấy bà bán hàng nước mới hay. Bến chị vừa xuống không phải là bến xe Tiền Hải mà là bến xe Đông Hưng. Vì không có xe Đông Hưng đi Tiền Hải mấy bà hàng nước lại bầy cho chị lấy vé quay ngược về thành phố. Ở nhà chồng chị hết đi ra rồi lại đi vào trong căn nhà thuyền. Nước đã bắt đầu lên chuẩn bị phải đi biển mà vợ đi từ sớm đến bây giờ đã tối mò tối sà vẫn chưa thấy về. Chồng chị đoán có việc xẩy ra nên thưa chuyện với cụ  trưởng vạn chài. Mọi người đổ đi tìm. Khi lên đến bến xe thì vừa may chị cũng đi xe từ Đông Hưng về lại bến. Đón được chị rồi mọi người thở phào. May chị lên nhầm xe đi Đông Hưng tuyến liên huyện trong tỉnh chứ lên nhầm xe liên tỉnh thì chẳng biết đến bao giờ mới tìm được.

Chuyện chị Khuyến đi tỉnh bị lạc đến tai cha xứ Cao Mại. Đến lúc này cha xứ mới biết xóm vạn chài cửa sông Ba Lạt còn có người chưa biết chữ. Mỗi tuần đều đặn thứ bẩy chủ nhật các con chiên vẫn từ cửa sông Ba Lạt về đi lễ. Thấy các con chiên trên tay ai cũng có cuốn kinh thánh các bài hát thánh ca đều thuộc làu làu. Ngày lễ ngày tết có việc xuống thăm các gia đình vạn chài. Trên mái rồi cả gian nhà thuyền báo chí dán kín bốn xung quanh. Đi đâu cũng chạm vào chữ. Cha đinh ninh là ai cũng biết chữ chứ cha đâu có ngờ cuốn sách cầm trên tay kia cũng chỉ là cầm làm vì các bài hát thánh ca là cũng nghe theo mọi người rồi thuộc các trang báo dán quanh nhà chỉ để che chắn cái nắng cái gió cho bớt lạnh mà thôi.

Câu chuyện chị Khuyến đi nhầm xe vì không biết chữ cũng đến tai anh em cán bộ chiến sĩ của đồn biên phòng Cửa Lân. Ngay sau khi biết chuyện anh em đồn biên phòng ngồi bàn việc mở lớp cho bà con xóm vạn chài ngay. Vấn đề vướng nhất ở đây là bà con làm nghề ngư. Nước lên xuống theo ngày. Có hôm nước xuống lúc đêm có ngày nước xuống buổi sáng. Nước lên thì đi biển nước xuống mới về cửa sông nghỉ ngơi chờ con nước mới. Thời gian để bố trí lớp học không thể theo thời khoá biểu như các lớp học phổ thông mà phải theo con nước theo điều kiện sắp xếp của bà con. Có nghĩa là khi nào các gia đình vạn chài về bến thì lúc đó mới có thể học. Việc nữa là bà con vạn chài tuy làm nghề biển thường xuyên tạm trú ở cửa sông Ba Lạt nhưng đều là bà con giáo dân đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn Cao Bình xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương huyện nội địa. Việc tổ chức lớp học lại phải được sự thống nhất của địa phương. Chẳng gì thì trong các báo cáo huyện cũng đã phổ cập xong giáo dục tiểu học. Việc làm trên chẳng hoá ra vạch áo cho người xem lưng thừa nhận chuyện bỏ sót vạn chài không biết chữ. Để xuôi dòng bén giọt anh em cán bộ đồn Cửa Lân đi đến từng nơi có liên quan đặt vấn đề mở lớp. Khi anh em cán bộ đồn biên phòng đến trao đổi bàn bạc từ cha xứ đến chính quyền địa phương và phòng giáo dục huyện Kiến Xương đều ủng hộ và rất lấy làm phấn khởi. Phòng giáo dục còn chỉ định ngay thầy giáo Trần Thanh Phúc xuống trực tiếp đứng lớp.

Được sự nhất trí cao của phòng giáo dục được sự ủng hộ của cha xứ mấy anh em biên phòng lại lặn lội xuống tận nhà thuyền động viên giải thích khuyến khích mọi người đến lớp. Giờ giấc học theo con nước. Nhất trí. Sách vở đồn mua cấp. Nhất trí. Trường lớp bàn ghế đồn lo. Nhất trí. Mấy cháu nhỏ bảo đi học có kẹo thì cháu mới đi. Nhất trí. Sẽ có kẹo ăn trước khi vào học. Lớp học phải gần thôi ở chỗ trạm kiểm soát biên phòng cơ lên đồn hay vào trong xóm xa lắm ngại lắm. Nhất trí. Dân yêu cầu gì là đồng ý. Miễn dân cứ đến lớp là được là ok hết. Để chắc ăn anh em nhờ cha xứ xuống nói giúp. Để có chỗ ngồi học trạm kiểm soát chuyển sang chỗ khác nhường lại cho lớp học. Sách vở anh em đóng góp ủng hộ tiền lương để mua. Thiếu cán bộ chiến sĩ về nhà xin sách vở cũ của con em trong gia đình. Miễn là sách học phải đủ không được thiếu. Bàn ghế vào các xóm xin về sửa sang. Thiếu cán bộ dồn lại hai ba ngư