CON CHỮ NEO BÊN BỜ CHÂN SÓNG

CON CHỮ NEO BÊN BỜ CHÂN SÓNG
Bút ký

Đại uý Đào Đình Luyện cán bộ vận động quần chúng đồn Biên phòng Cửa Lân và thầy Trần Thanh Phúc giáo viên lớp xoá mù chữ làng chài cửa sông Ba Lạt Thái Bình đón tôi bên bờ chân sóng nơi tận cùng mép nước Cồn Vành. Mấy năm trước khi tôi về viết bài các tỷ phú nuôi ngao ở đây chỗ Luyện đón tôi vẫn còn đang là ngoài biển. Ngày đó Cồn Vành trông chẳng khác gì quả trứng bệp bềnh trên mặt sóng. Nhanh thật. Quay đi quay lại phù sa cửa sông Ba Lạt đã kịp bồi đắp kéo tuột cả Cồn Vành dính đét vào đất liền. Khi đó nghe dự án làm đường ra Cồn Vành không mấy ai dám tin. Ấy thế mà cái khó tin ngày nào nay thành sự thật nó neo giữ con người ở lại biển cả. Cái neo giữ đời người không gì bằng đời sống vật chất. Chỉ có điều ngay bên vùng nuôi ngao nuôi tôm ngay sát xã có tới cả chục tỷ phú trong tay nắm cả bọc tiền két lớn két bé lại ở ngay vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi vựa lúa của cả nước vẫn còn một vạn chài mà cái chữ o tròn như quả trứng gà giống như cái cồn nổi quanh năm suốt tháng bám vào nó mà sống mà tồn tại cũng không biết.

Thấy tôi nóng ruột muốn được xuống lớp xoá mù chữ của vạn chài cửa sông Ba Lạt Luyện thủng thẳng: Anh cứ yên tâm. Bây giờ mới là lúc nước xuống. Bà con bây giờ mới từ ngoài khơi về. Nhanh ba mươi phút chậm thì một tiếng. Rồi còn phải nấu ăn cơm cơm nước nước vài ba chục phút nữa mới có thể lên lớp được. Nhìn bóng điện vàng vàng chỉ đủ cho con người ngồi bên chén trà tán gẫu cộng thời gian của Luyện nói thì có mà nửa đêm. Lúc đó còn học hành cái nỗi gì. Lúc đó có chăng mấy cặp vợ chồng trẻ vạn chài lục đục mắc màn đi ngủ. Chắc Luyện đọc được cái lo lắng của tôi nên chỉ cười rồi chỉ tay vào cái đèn măng xông đặt trên bàn phía góc phòng. Lặng lẽ đi lại chỗ tủ gỗ cá nhân cái loại tủ mà trong quân đội thường trang cấp cho sĩ quan để quân trang và đồ dùng cá nhân.  Luyện mở khoá. Xong quay ra gọi người đi vào trong xóm mua kẹo. Vẫn cái giọng thủng thà thủng thỉnh Luyện bảo: Biết làm sao được. Mình muốn dân học nhưng dân chưa sắp xếp được lịch thì chờ. Chờ đến nửa đêm mà dân học được cũng lên lớp. Dân đến lớp học là mừng rồi. Mừng hơn mẹ về chợ chứ anh tưởng à. Luyện nhìn sang tôi động viên: Anh cứ cố gắng chờ đi. Anh em vừa chạy vào xóm đi mua kẹo. Kẹo chưa về thì chưa thể lên lớp được.

Trong lúc chờ đợi bà con vạn chài đến lớp bên bát chè xanh Luyện và thầy giáo Trần Thanh Phúc kể cho nghe chuyện dạy chữ. Mà không đúng hơn là chuyện đi gieo cái chữ như người ta đi gieo quả sú cây bần để giữ sa và chống sóng chống bão. Ấy là cái sự ra đời của lớp học xoá mù chữ có lẽ là duy nhất ở nơi vựa lúa nơi được cho là có trình độ dân trí cao của cả nước.

Lần đó chị Nguyễn Thị Khuyến có việc phải lên thành phố Thái Bình. Dậy từ sớm đi bộ ra bến xe huyện. Vì chỉ có một tuyến duy nhất là Tiền Hải đi Thái Bình nên mua vé xong chị Khuyến lên xe. Đi từ bến đầu đến bến cuối nên chẳng có chuyện gì phải lo lắng xẩy ra. Mua sắm xong theo trí nhớ chị lần ngược các con phố trở lại bến xe tỉnh. Vì không biết chữ nhìn quanh bến thấy có rất nhiều xe và toàn người lạ ai cũng ăn mặc sạch sẽ tươm tất. Phần vì ngại phần vì xấu hổ chị không dám hỏi nên cứ thấy xe ô tô nào đậu gần chỗ đứng là lên. Chị nghĩ chắc xe nào rồi cũng chạy về Tiền Hải. Khi xe về bến trả khách chị Khuyến thấy không giống cái bến lúc sáng lạ hoắc. Loanh quanh mãi mà không biết đi đường nào để về. Đánh liều hỏi mấy bà bán hàng nước mới hay. Bến chị vừa xuống không phải là bến xe Tiền Hải mà là bến xe Đông Hưng. Vì không có xe Đông Hưng đi Tiền Hải mấy bà hàng nước lại bầy cho chị lấy vé quay ngược về thành phố. Ở nhà chồng chị hết đi ra rồi lại đi vào trong căn nhà thuyền. Nước đã bắt đầu lên chuẩn bị phải đi biển mà vợ đi từ sớm đến bây giờ đã tối mò tối sà vẫn chưa thấy về. Chồng chị đoán có việc xẩy ra nên thưa chuyện với cụ  trưởng vạn chài. Mọi người đổ đi tìm. Khi lên đến bến xe thì vừa may chị cũng đi xe từ Đông Hưng về lại bến. Đón được chị rồi mọi người thở phào. May chị lên nhầm xe đi Đông Hưng tuyến liên huyện trong tỉnh chứ lên nhầm xe liên tỉnh thì chẳng biết đến bao giờ mới tìm được.

Chuyện chị Khuyến đi tỉnh bị lạc đến tai cha xứ Cao Mại. Đến lúc này cha xứ mới biết xóm vạn chài cửa sông Ba Lạt còn có người chưa biết chữ. Mỗi tuần đều đặn thứ bẩy chủ nhật các con chiên vẫn từ cửa sông Ba Lạt về đi lễ. Thấy các con chiên trên tay ai cũng có cuốn kinh thánh các bài hát thánh ca đều thuộc làu làu. Ngày lễ ngày tết có việc xuống thăm các gia đình vạn chài. Trên mái rồi cả gian nhà thuyền báo chí dán kín bốn xung quanh. Đi đâu cũng chạm vào chữ. Cha đinh ninh là ai cũng biết chữ chứ cha đâu có ngờ cuốn sách cầm trên tay kia cũng chỉ là cầm làm vì các bài hát thánh ca là cũng nghe theo mọi người rồi thuộc các trang báo dán quanh nhà chỉ để che chắn cái nắng cái gió cho bớt lạnh mà thôi.

Câu chuyện chị Khuyến đi nhầm xe vì không biết chữ cũng đến tai anh em cán bộ chiến sĩ của đồn biên phòng Cửa Lân. Ngay sau khi biết chuyện anh em đồn biên phòng ngồi bàn việc mở lớp cho bà con xóm vạn chài ngay. Vấn đề vướng nhất ở đây là bà con làm nghề ngư. Nước lên xuống theo ngày. Có hôm nước xuống lúc đêm có ngày nước xuống buổi sáng. Nước lên thì đi biển nước xuống mới về cửa sông nghỉ ngơi chờ con nước mới. Thời gian để bố trí lớp học không thể theo thời khoá biểu như các lớp học phổ thông mà phải theo con nước theo điều kiện sắp xếp của bà con. Có nghĩa là khi nào các gia đình vạn chài về bến thì lúc đó mới có thể học. Việc nữa là bà con vạn chài tuy làm nghề biển thường xuyên tạm trú ở cửa sông Ba Lạt nhưng đều là bà con giáo dân đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn Cao Bình xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương huyện nội địa. Việc tổ chức lớp học lại phải được sự thống nhất của địa phương. Chẳng gì thì trong các báo cáo huyện cũng đã phổ cập xong giáo dục tiểu học. Việc làm trên chẳng hoá ra vạch áo cho người xem lưng thừa nhận chuyện bỏ sót vạn chài không biết chữ. Để xuôi dòng bén giọt anh em cán bộ đồn Cửa Lân đi đến từng nơi có liên quan đặt vấn đề mở lớp. Khi anh em cán bộ đồn biên phòng đến trao đổi bàn bạc từ cha xứ đến chính quyền địa phương và phòng giáo dục huyện Kiến Xương đều ủng hộ và rất lấy làm phấn khởi. Phòng giáo dục còn chỉ định ngay thầy giáo Trần Thanh Phúc xuống trực tiếp đứng lớp.

Được sự nhất trí cao của phòng giáo dục được sự ủng hộ của cha xứ mấy anh em biên phòng lại lặn lội xuống tận nhà thuyền động viên giải thích khuyến khích mọi người đến lớp. Giờ giấc học theo con nước. Nhất trí. Sách vở đồn mua cấp. Nhất trí. Trường lớp bàn ghế đồn lo. Nhất trí. Mấy cháu nhỏ bảo đi học có kẹo thì cháu mới đi. Nhất trí. Sẽ có kẹo ăn trước khi vào học. Lớp học phải gần thôi ở chỗ trạm kiểm soát biên phòng cơ lên đồn hay vào trong xóm xa lắm ngại lắm. Nhất trí. Dân yêu cầu gì là đồng ý. Miễn dân cứ đến lớp là được là ok hết. Để chắc ăn anh em nhờ cha xứ xuống nói giúp. Để có chỗ ngồi học trạm kiểm soát chuyển sang chỗ khác nhường lại cho lớp học. Sách vở anh em đóng góp ủng hộ tiền lương để mua. Thiếu cán bộ chiến sĩ về nhà xin sách vở cũ của con em trong gia đình. Miễn là sách học phải đủ không được thiếu. Bàn ghế vào các xóm xin về sửa sang. Thiếu cán bộ dồn lại hai ba người một bàn còn lấy bàn cho dân học. Mặc dù không ai nói ra nhưng tất cả chỉ có một phương châm hành động duy nhất: Tất cả vì lớp học của vạn chài. Cứ thế bằng tất cả tấm lòng dành cho lớp học. Cả vạn chài có 48 hộ với 190 khẩu đồn biên phòng Cửa Lân đã cùng với phòng giáo dục huyện Kiến Xương mở được lớp xoá mù chữ cho 60 người. Khi cầm tờ báo trên tay đọc được cái chữ biết được chuyện trong nước và các địa phương biết thêm cách làm ăn đi chợ biết ghi vào sổ ai nợ tiền không còn cảnh xảy ra cãi vã nhau nợ nần như trước có người khóc rưng rức. Cầm quyển sách trên tay người vạn chài lại nhớ các gia đình cũng vì vất vả mà đã đưa vợ chồng con cái bỏ làng bỏ vạn chài mà đi. Có gia đình sau khi đi nơi khác làm ăn nghèo khổ lại nghèo khổ hơn đành phải quay về. Gian nhà thuyền rách nát vẫn hoàn rách nát. Có nhiều gia đình đi hẳn chẳng biết bão gió nơi cửa sông cửa biển nơi đất khách quê người có bị thần sông thần biển bắt đi không.  

Nghe Đào Đình Luyện và thầy Trần Thanh Phúc kể giai đoạn mở lớp mà lòng rưng rưng. Dân không biết chữ vì miếng cơm manh áo. Cả ngày lặn hụp nơi con sóng mò mẫm con cua con cá. Kiếm đủ cái ăn đã toát mồ hôi. Rồi nào là phơi lưới vá lưới sửa sang cái cột cái lèo. Đàn bà con trẻ thì phải phân loại cá đi bán cơm cơm nước nước. Thuyền về bến không ai dám ngả lưng. Chỉ cần đặt lưng xuống là ngủ. Thời gian với người dân làm nghề ngư dường như lúc nào cũng thiếu. Bây giờ dân đã nhất trí đồng tâm học nên ai cũng thấy dù có vất vả vậy chứ vất vả đến đâu cũng phải làm cho dân. Đời sống mưu sinh vất vả của người dân nó cứ hiển hiện ra ngay trong lớp học. Một cộng một bằng hai có lẽ không còn mấy ai không biết nhưng ở đây bao giờ cũng được thêm từ đồng sau kết quả. Phép cộng hai con số có 4 chữ số thầy đọc xong trò dưới lớp đọc kết quả ngay chính xác tuyệt đối nhưng vẫn có từ đồng. Bảo lên bảng viết phép tính và kết quả vừa đọc. Chịu. Hai tay vò tai bứt tóc chân di di đến đến nát cả đất. Nếu cứ gặng bảo viết thầy ở lại em về nhà thuyền đây. Đi biển về đánh được con cá con tôm mang lên chợ bán cái thói quen đã cộng các con số là phải có từ đồng nên bây giờ dẫu chỉ là các con số tự nhiên trong phép cộng nhưng nó cũng luôn được có từ đồng kèm theo. Thầy giáo nhắc đây là con số tự nhiên không phải đơn vị tính giá trị không có từ đồng sau kết quả. Thầy nói chúng em nhớ rồi nhưng thói quen quy mọi thứ thành tiền chưa bỏ được. Người trước nhắc người sau lại mắc. Thôi có từ đồng cũng được. Nhưng nhớ nhé không có tiền ở đây đâu. Nghe thầy nhắc thế mấy học sinh trung tuổi cười như nắc nẻ. Cái lo mưu sinh đến lên lớp còn đeo đẳng còn thường trực trong mỗi người trong từng phép tính.

Tranh thủ lúc bà con dân chài chuẩn bị bữa cơm chiều trước khi đến lớp tôi rủ thầy Phúc và Luyện xuống thăm bà con. Lội qua lớp sa cửa sông ngập đến đầu gối. Mỗi khi rút chân lên để đi tiếp lớp sa dầy như có thuỷ lực hút chân xuống. Học sinh ở các nhà trường trên đất liền đến lớp áo đồng phục giầy giầy dép dép còn ở đây cứ đánh độc cái quần đùi nếu "ngon lành" quần dài quấn cổ đến cửa lớp rửa chân rồi mặc vào lớp. Để tận dụng hết thời gian bể nước của trạm lúc nào cũng phải đầy trở thành chế độ kiểm tra thường xuyên trong ngày như quy định trong điều lệnh kỷ luật của người lính vậy.  Học xong lại cởi quần quấn cổ lội sa về nhà thuyền. Rồi chuyện đi học con mới được ba bốn tháng tuổi. Giữa buổi học con khóc đòi bú. Học sinh vô tư bật khuy trễ áo cho con bú giữa lớp nựng: Nào bú đi ngoan đừng khóc. Thầy giáo lại cười cho bây giờ. Thầy giáo trẻ những ngày đầu không để đâu hết ngại. Sau quen đi. Đang giờ giảng mà vắng tiếng trẻ khóc đòi bú lại nhớ. Thế mới hay cái tình con người khi đã dành cho nhau thì mọi sự khách sáo lễ nghi cũng trở nên bình thường và thân thiện đáng yêu.

Cầm chén rượu hết nâng lên rồi đặt xuống cụ Phạm Văn Cầm nhìn về phía biển. Ở cái tuổi "xưa nay hiếm" một "già làng" của vạn chài một đời dọc ngang trên đầu con sóng có lẽ mọi sự "bĩ cực" ở đời cụ đã qua mọi cái "hỉ nộ ái ố" cụ đã từng. Với cụ có lẽ mọi sự bây giờ nhẹ như gió thoảng ấy thế mà khi nói về cái sự học của con của cháu cái sự biết chữ của người vạn chài nơi cửa sông câu chuyện của cụ sao mà nặng lòng làm vậy. Cụ bảo cả đời cụ cứ đinh ninh sống ngâm da chết ngâm xương cái chữ đâu có nuôi nổi con người. Bây giờ thấy con thấy cháu cầm cuốn sách tự đọc được đi chợ hay hoán đổi cho vay cho giật cái gì giữa các gia đình trong vạn tự tay có thể ghi vào sổ chứ không chỉ còn lấy gạch mà vạch vào vách vẽ cái hình cho vay cho mượn. Trí nhớ có giới hạn cái chữ còn chả biết làm sao nhớ mãi được bằng người khác. Rồi nhớ nhớ quên quên làm cho mất lòng mất bề người trong vạn với nhau. Sống bằng nghề sông nước con người luôn phải đối mặt với bão gió mưa sa cần biết bao sự đùm bọc cưu mang. Có khi chỉ vì những chuyện vụn vặt ấy mà làm cho tình làng nghĩa nước chẳng còn. Sống như thế thì có khác gì đã chết. Lớn lên có theo chúng theo bạn đi làm thuê làm mướn làm cửu vạn có thoát được cảnh lặn ngòi ngoi nước trần mình với con cá con tôm con cua con ghẹ thì khi bước chân ra đi là coi như biệt tích. Có biết chữ đâu mà thư mới từ. Cả nhà cả vạn chài chỉ có mỗi cách duy nhất là chờ và chờ cho đến ngày về lúc đó mới yên lòng.

Nghe cụ Phạm Văn Cầm tâm sự mà lòng rưng rưng không dám nói. Từ cái thuở khi con người biết tạo ra chữ viết vào thời kỳ đồ đồng ở cuối thời kỳ đá mới vào khoảng những thiên niên kỷ thứ 3 thứ 4 trước công nguyên thậm chí ngay chữ quốc ngữ cái con chữ mà làng chài đang học từ những chữ cái đầu tiên a b c cũng đã xuất hiện vào những năm 1651 khi mà cái ông A- lếch- xăng- đrơ Đờ Rốt soạn "Bài giảng giáo lý tám ngày" đầu tiên bằng tiếng Việt tại Rôm để truyền bá giáo lý mà ngày thứ bẩy chủ nhật người dân vạn chài vẫn kính cẩn cầu nguyện. Rồi cũng từ những bài giáo lý đầu tiên ấy mà giáo lý của những người theo tôn giáo đã bám rễ buông neo ở lại đất này. Mới chỉ nghĩ có vậy mà đã thấy tủi cho phận vạn chài mà mừng cho cái tình cái nghĩa của các anh ở đồn biên phòng Cửa Lân và tấm lòng của thầy giáo Trần Thanh Phúc mặc vợ mặc con mặc chuyện đang thuê thợ xây nhà mặc phải dựng nhà tạm để ở nhường chỗ ở chỗ làm xuống cùng vạn chài lội sa cùng người học chấp nhận nửa đêm gà gáy đốt đèn để lên lớp mong cho người dân biết chữ. Có cái giáo lý nào hơn cái giáo lý vì người như ở đây. Nhưng rồi tôi cứ nghĩ. Có lẽ từ những chữ cái của cụ bà 70 đến các cháu 6 tuổi hôm nay đang học đánh vần từ cái miệng chúm chím đang ngậm vú mẹ trong lớp nghe tiếng thầy giáo Trần Thanh Phúc nhắc cách nhớ con số nhớ mặt chữ ngoảnh cổ ngước mắt ra nhìn kia cũng sẽ trở thành cái neo neo lòng người ở lại nơi cửa biển. Con chữ buông neo vào lòng người để như cây vẹt cây bần cứ bám rễ vào đất sa mà thành rừng giữ cái ngọt của phù sa ở lại bồi mãi cho vùng đất này mãi rộng.

Thì đấy. Sau khi kết thúc lớp học xoá mù chữ cho 60 người vạn chài lại tiếp tục mở hai lớp học tiếp. Một lớp cho các đối tượng từ 7 đến 20 tuổi. Những người này sẽ được học theo chương trình phổ thông phổ cập đến hết tiểu học mới thôi. Một lớp cho những người có độ tuổi từ 21 đến 50 tuổi. Những người này sẽ học theo chương trình riêng xoá mù chữ dẫu ai cũng muốn học nữa nhưng vì bát cơm manh áo của cả nhà đành phải gác lại học bù sau. Chị Nguyễn Thị Khuyến sau chuyến đi tỉnh bị lạc nhầm bến xe nay đã học xong lần một tình nguyện học lại và được đề nghị làm lớp trưởng cả hai lớp giúp các thầy phần nhắc nhở giờ giấc khi đến lớp. Nhìn dáng chị Khuyến quần xắn quá gối te tái chạy dọc bãi gọi từng người lên lớp. Tiếng chị gọi hoà vào sóng vào gió vào trong mỗi căn nhà thuyền giục giã mà thiết tha. Trong lớp thầy giáo Trần Thanh Phúc và đại uý Đào Đình Luyện đang chia kẹo cho mọi người. Vừa chia kẹo thầy Trần Thanh Phúc vừa nhắc: Hôm nay ăn kẹo trước khi học để mọi người nhớ. Sau phép cộng các con số tự nhiên là không có đồng đâu đấy. Đám trẻ vừa cắn kẹo câng cấc vừa đáp: Vâng ạ. Mấy người cao tuổi lặng lẽ bỏ kẹo vào túi lấy cái kim băng cài lại.

Ngoài kia nơi con sóng vỗ bờ dào dạt ngôi nhà thuyền óc ách tiếng cá tranh nước lòng khoang. Cây sú cây bần đã bén rễ. Con chữ đã thành cái neo buông lại nơi này. Tiếng đánh vần lẫn vào tiếng con sóng vỗ bờ đổ hồi đổ hồi suốt dải bờ bên chân sóng Cồn Vành của vạn chài nơi cửa sông Ba Lạt./.

Phạm Thanh Khương

LHP.
Còn phát hiện ra nhiều cái hay nữa cơ.
Tỷ dụ:
Đồ sơn đúng thật Đồ sơn
Dung dăng thì cũ cái ... cũ hơn.
He he.

Phạm Thanh Khương

He he. Lương tâm không bằng lương tháng. Nhưng mà lương tâm còn không có răng nên ở đời có ai sợ bị lương tâm cắn đâu. Những tay làm báo truyền hình là chịu khó nhặt lắm. He he.
Xuống HN gặp nhau nhé.

Lâm Hải Phong

Hay!

Đi thì ra con chữ
neo thì chữ chẳng ra
"con chữ neo bên bờ chân sóng"
phát hiện hay của lão Khương già!
Khà!

dhq

"Cái neo giữ đời người không gì bằng đời sống vật chất".
Trên báo Tuổi Trẻ đang có diễn đàn "Lương tâm không phụ thuộc vào lương tháng".

Toàn những câu hay em đọc được hôm nay.

Binh nhất

Binh bét.
Cứ có dịa chỉ là Binh nhất gửi tặng thôi. Nhà lính với nhau mà. Binh nhì nắng và binh bét cho địa chỉ đi. Gửi vào hộp thư ấy. Nhận được địa chỉ là có sách.
Cho một ly nước vối. Hì hì.

Binh bét

Gửi anh Binh nhất.
Chúc mừng tập truyện ngắn mới được in ấn và phát hành nhé.
Bọn em có được phân phối cho mỗi đứa 1 quyển không đấy?
Thanh kiu trước nhé Binh bét và Binh nhì đang cười toa toét chờ quà đây này.
khàkhà...1 nâu đá cho nó mát thôi.

Phạm Thanh Khương

Anh Chung.
Dịp này em cũng bận quá. Đi viết thuê suốt anh ạ.
Lúc nào rảnh anh em mình cà phê tý anh nhé.
Em cũng vừa ra tâph sách truyện ngắn Dòng sông tật nguyền. Khi nào gặp em xin tặng anh chị đọc cho vui.
Chúc anh khoẻ.

hadinhchung

Gửi PTK :
***
Hôm nay mới ghé qua nhà thăm được
Ngoài kia nơi con sóng vỗ bờ dào dạt ngôi nhà thuyền óc ách tiếng cá tranh nước lòng khoang. Cây sú cây bần đã bén rễ. Con chữ đã thành cái neo buông lại nơi này. Tiếng đánh vần lẫn vào tiếng con sóng vỗ bờ đổ hồi đổ hồi suốt dải bờ bên chân sóng Cồn Vành của vạn chài nơi cửa sông Ba Lạt./.

Đúng là "Con chữ đã thành cái neo buông lại nơi này "
rất chi là sâu sát mới viết nổi bài này đấy Chúc mừng Khương vẫn khỏe là anh thấy vui rồi
Ha...ha
undefined

Phạm Thanh Khương

Tâm An à.
Thế thì còn gì bằng. Bài của bạn bè gửi cho để đăng chả sướng tê người đi chứ bộ.
Mà em kiếm cũng nhanh nhanh lên đấy anh đã đi mài răng ăn cỗ rồi đấy. Hì.
Khi nào lên Hà Nội ghé qua anh nhé.

Phạm Tâm An

@ Huynh
Báo của huynh nhiều mục hay đó có hẳn trang thơ nữa mấy hôm rảnh rảnh em sẽ gửi bài cho trang đó nhe huynh!
Thui cảm ơn huynh vụ mai mối em phải tự đi tìm 1 ông cho mình thôi...Hi...